Những Cánh Phượng Khô Ép Trong Trang Vở

Lâu lắm rồi, có một lần trong đời tôi tìm lại được những cánh phượng khô ép giữa những bài thơ, trong tập thơ có những trang giấy “pelure” màu hồng, màu xanh dễ thương như tuổi học trò thơ mộng. Kỷ niệm thời học trò bị bỏ quên nằm lẫn lộn với những cuốn sách cũ trên kệ sách, hình như không ai đụng đến. Rất, rất lâu tôi cũng không đụng đến, cho đến một buổi chiều mưa tự nhiên tôi lại nhớ, khi những cánh hoa khô bất ngờ rơi xuống lả tả đã trở màu nâu sậm là lúc ấy trong trí tôi, cũng rưng rưng những cánh phượng màu đỏ thắm rơi trên mặt cỏ…

Cảm giác mênh mang buồn khi tìm gặp lại những cánh phượng khô ép trong trang vở, khiến tôi nhớ đến anh, người “bạn” duy nhất trong đời học sinh, đã nhặt những cánh phượng rơi trên thảm cỏ gần mé sông, ép vào trang vở bọc trong giấy kính mờ rồi làm quà cho cô bạn nhỏ. Nét chữ bay bướm của anh nghiêng nghiêng trên những tờ thư mỏng, anh vẫn thường nhận phần trang trí hay chép hộ tôi những bài thơ hay. Chỉ vậy thôi, ngày nào trên đường đi học về, tôi cũng đã phải ghé vào nhặt vài bông hoa cầm trên tay để làm duyên với anh bạn chung đường, hình như từ đó cũng nảy nở một mối tình học trò, be bé xinh xinh như những cánh phượng đầu mùa ép khô đã đổi màu với thời gian.

Mối tình ấy bao lâu tôi không nhớ, nó bắt đầu khi nào và kết thúc làm sao, vẫn chỉ để lại một nỗi hờn giận nhẹ nhàng mà lại khó nguôi trong trái tim nhỏ bé của tôi. Hai năm dài đi chung một con đường đến trường, bỡ ngỡ xa lạ lúc ban đầu, êm đềm đằm thắm lúc về sau, để rồi sau một mùa hè “người ấy” biến mất, như những cơn mưa mùa hè đã cuốn theo những cánh hoa phượng rã rời trôi theo dòng sông biền biệt.

Tôi chỉ biết anh ở trọ nhà bà con trong suốt thời gian đi học, bà mẹ quê phải vất vả tằn tiện từng đồng nuôi con đi học xa. Quê anh tít trong vùng sâu ở bên kia sông, thời chiến tranh nằm giữa hai lằn đạn. Bà mẹ chịu ở lại với mảnh vườn và ruộng lúa để nuôi các con ăn học, tình hình chiến sự nhiều khi rất sôi động đến nỗi con cũng không dám về nhà thăm mẹ cho nguôi lòng thương nhớ, mẹ cũng phải khó khăn mới chèo chống được với sóng gió, bằng chiếc ghe nhỏ chở khẳm gạo và thức ăn bơi qua sông lớn để nuôi con ăn học. Chính vì vậy mà tâm tư anh khắc khoải một nỗi buồn, nhất là những đêm nghe tiếng đại bác vọng về thành phố, ánh hoả châu soi sáng vùng trời xa bên kia sông, tương lai tuổi trẻ ngày ấy mịt mờ nặng trĩu những âu lo, khiến anh nghĩ tới bà mẹ quê tội tình mà không an tâm trong việc học. Năm đó anh thi rớt, một là học lại một năm nữa để thi nốt mảnh bằng tú tài 2, sau đó lên Đại Học, nhưng đúng lúc đó chiến trận leo thang, anh cũng đang độ tuổi tòng quân nhập ngũ.

Anh biến mất trong tôi kể từ mùa hè năm ấy không một lời từ giã. Có lúc tôi nghĩ chắc anh đã nghỉ học về quê ở nhà với mẹ để trốn lính, hay có khi lại chạy theo bên kia vì nhà anh thuộc vùng xôi đậu. Thôi thế là hết, tình học trò non nớt như những bông hoa phượng đỏ, lắm nhớ nhung để rồi tự nhiên bị đứt như dây tơ chùng xuống nốt nhạc buồn. Trong tâm hồn người con gái tuổi mộng mơ mới biết yêu vẫn thổn thức khi niên học mới một mình đến trường không còn ai đưa đón. Lật tập thơ, tôi thấy còn nhiều cánh hoa phượng khô của anh tặng năm xưa nằm xen trong những trang giấy mỏng, lúc ấy tôi đã làm bài thơ “Ngày Tựu Trường”, ép vào đó một cánh phượng khô với nỗi buồn của tôi, nỗi hờn giận đã làm tan nát trái tim non nớt tuổi học trò.

Ngày Tựu Trường

Ngày tựu trường lòng tôi sao trống vắng

Đếm trên đường từng bước với cô đơn
Người ta vui sao chỉ có tôi buồn
Tình êm đẹp bây giờ không còn nữa

Lá phượng xanh, màu xanh nay đã úa

Ngày tựu trường trời sao vẫn nhiều mưa
Đường đi, về tôi cảm thấy bơ vơ
Nên cúi mặt tìm màu hoa đỏ thắm

Một người ra đi nơi nào xa lắm

Cánh phượng hồng khô héo đã từ lâu
Những bông hoa kỷ niệm buổi ban đầu
Vẫn còn đó không một lời hẹn ước

Ngày tựu trường có một mình tôi khóc

Đâu còn anh ai chép hộ bài thơ
Đâu còn anh mình tôi bước thẫn thờ
Trong buổi sáng đầu năm vào lớp học.


Bài thơ dễ thương ấy là một trong những bài thơ tuổi học trò, với những cánh hoa ngả màu nâu buồn nằm thầm lặng trong góc tủ sách, hay suốt đời nằm thầm lặng trong đáy hồn tôi.

Khi tôi nghĩ sẽ không bao giờ còn gặp lại “người ấy”, dù chia tay chỉ vì hoàn cảnh nhưng đã vô tình làm tổn thương trái tim non nớt của tôi. Vậy mà vài năm sau khi lập gia đình, tôi bồng đứa con gái nhỏ ghé vào tiệm bách hoá mua đồ chơi cho con thì gặp anh. Trong bộ chinh y còn nhàu bụi đường xa, hình như anh mới từ đơn vị về nên nét mặt còn hằn dấu phong sương.

Ngỡ ngàng, bối rối, bồi hồi, ba cảm giác ấy trộn lẫn vào nhau khiến tôi lúng túng thốt ra toàn những câu thật ngớ ngẩn khi hai bên chạm mặt nhau. Má tôi nóng bừng lên lẫn lộn cảm xúc bất ngờ xung đột trong lòng, khi nhớ đến chuyện ngày xưa, lại nửa như muốn cho anh nhìn thấy cái hạnh phúc mà tôi đang có. Vẫn không bỏ được tính trẻ con, bất đắc dĩ tôi phải hỏi, vẫn trống không như ngày xưa mỗi lần hờn giận:

“Mới về hả?”

Anh cũng mỉm cười gật đầu, ánh mắt nửa thương mến nửa giễu cợt khi nhớ lại cái tính hay hờn của tôi:

“Ừ, mới về!”

Rồi lặng thinh nhìn tôi rất lâu. Đôi mắt ấy chừng như đâu đó đọng lại một niềm vui dịu dàng khi biết tôi đã có một gia đình hạnh phúc, xen lẫn chút ân hận khi nghĩ đến chuyện cũ. Thời gian qua lâu rồi, những cánh hoa khô vẫn nằm trong tập thơ tôi nhét kín trong kẹt tủ sách. Trong bấy nhiêu năm trời tôi đâu biết anh đi đâu về đâu, bây giờ nhìn anh trong màu áo trận, tôi ân hận là đã có lúc nghĩ sai về anh, vì tưởng anh sợ đời lính nên trốn về quê núp bóng mẹ. Anh nựng đứa bé trên tay tôi rồi hỏi:

“Cháu xinh và giống mẹ ghê, được mấy tuổi rồi?”

Tôi lí nhí trả lời nhưng tự nhiên một nỗi hờn giận dâng lên trong ánh mắt, tôi có làm gì nên tội để ngày ấy anh bỏ đi không một lời từ giã. Theo thời gian tình yêu ấy giờ đây đã khâm liệm rồi, nhưng niềm đau thì hình như vẫn còn đó khi nhớ lại. Nỗi đau tuổi đầu đời, in một dấu hằn trong trái tim nhỏ bé, chưa kể những giọt nước mắt tủi hờn mỗi lúc lẻ loi trên đường đi học, tôi vẫn phải đi ngang nhịp cầu và mé sông rưng rưng tàn hoa phượng đỏ mỗi lúc sang hè.

Tự nhiên tôi bật hỏi:

“Hồi đó anh đi đâu?"

Anh buồn buồn:

“Anh nhập ngũ, mẹ anh đâu còn bao nhiêu sức lực để nuôi anh học lại một năm nữa, anh cũng không thể về cày cuốc nơi mảnh đất quê nhà. Đành là ra đi mà không dám nói lời từ biệt, anh xin lỗi…”

Chúng tôi còn nói thêm vài câu chuyện nữa. Đã hết giận anh rồi, chuyện cũ đã được giải thích, dù sao hiện tại tôi đã ấm êm với một gia đình hạnh phúc, riêng anh đời lính đẩy đưa qua những miền đất lạ, chỗ nào cũng chỉ có đạn bom. Anh chưa lập gia đình dù mẹ anh mong mỏi, nhưng đời lính luôn đối diện với sống chết lại ám ảnh chuyện “những kinh kha một sớm chẳng quay về” nên anh ngại ngùng chưa nghĩ đến hôn nhân.

Tôi bế con ra khỏi tiệm bách hoá, trên tay con bé giữ chặt món quà của người lính mua tặng, nó toét miệng cười khi anh đặt nụ hôn dịu dàng lên vầng trán ngây thơ của đứa bé trước khi từ giã. Chuyện năm nao đã lắng xuống rồi, ít ra cũng có một câu trả lời để “cô bé học trò” ngày ấy khỏi tấm tức vì nghĩ mình bị bỏ rơi. Nụ hôn dịu dàng anh gửi lại trên vầng trán đứa bé, khiến tôi chạnh nhớ đến lần cuối cùng, anh cũng giấu kín lời từ biệt với nụ hôn nhẹ nhàng trên trán tôi rồi ra đi mà không nói một lời. Món đồ chơi trẻ con đứa bé giữ chặt trong tay, khiến tôi bật cười mà lại cảm động khi nghĩ tới những bông hoa phượng màu nâu khô ép trong tập thơ nhét trong kẹt tủ, ngày xưa tôi cũng giơ tay nhận món quà trời cho ấy mỗi độ sang hè, nhớ đôi mắt nồng ấm của anh nhìn tôi với nụ cười xinh giấu trong vành nón lá.

oOo


Kể từ lần gặp ấy tôi không hề gặp lại anh nữa, cuộc đời cứ thế trôi đi theo cái tan nát của nước non. Tôi may mắn cùng chồng rời khỏi quê nhà trong những giờ thứ 25 của cuộc chiến, chẳng mang theo được gì, huống chi là tập thơ tuổi học trò giấu trong kẹt tủ sách có những cánh hoa khô ép trong cuốn vở.

30 năm sống ở quê người, lòng tôi vẫn chưa nguôi ngoai nỗi nhớ quê và mong ước một lần trở về. Trở về để làm một người khách lạ trên chính quê hương của mình, những gì trong quá khứ đã không còn, tôi chẳng tìm đâu ra hai cây phượng nơi mé sông, tôi cũng không nhìn ra ngôi trường mình đã học ngày xưa vì nó thay đổi hết rồi. Chị bạn đồng hành mời tôi về thăm sông nước miền Tây cho biết đời sống và vẻ đẹp của những thôn làng nằm ven bờ sông Hậu, tôi nhận lời ngay vì chợt nghĩ đến ngày xưa, có lần tôi đã ao ước được theo anh về thăm nhà, nhưng anh nói:

“Em không biết chèo xuồng, không biết bơi làm sao dám về vùng sông nước.”

Anh nói vậy nhưng tôi hiểu cái mặc cảm trong lòng anh, một cô gái thị thành “ăn trắng mặc trơn”, sao phù hợp được với cảnh đời của một thanh niên cảnh nhà thanh bạch nơi quê mùa đầy những bất trắc của chiến tranh. Lần trở về này tôi theo người bạn về thăm quê chị, nơi mà có lần mấy chục năm về trước, tôi đã nhìn thấy nỗi bồn chồn của người yêu cũ khi nhìn ánh hoả châu phía chân trời bên kia sông, mà nghĩ đến bà mẹ quê nghèo đang lao đao giữa hai lằn đạn.

Đã bao nhiêu khuôn mặt thân hay sơ đi qua đời mình, bạn bè chung trường chung lớp ngày xưa bây giờ mỗi người có một số phận khác nhau và đời sống khác nhau. Tôi gặp một vài người bạn cũ còn sống ở quê nhà, có người thành công có người lận đận an phận sống cho hết kiếp người. Tôi thoáng nhớ đến anh, người bạn thuở học trò, không biết bây giờ anh ra sao, chỉ mong sao anh cũng thoát được nỗi vất vả cuộc đời mà qua hai giai đoạn tôi biết, đời học sinh và đời lính tuổi nào anh cũng ắp đầy nỗi khổ.

Chuyến đò xình xịch nổ máy rồi rời bến chở khách về thăm lại làng quê miền đồng bằng sông Cửu Long, bây giờ cũng có một con đường nhỏ chạy song song với dòng sông. Đa số người miền quê vẫn thích đi bằng đò vì mát mẻ và vận chuyển được nhiều hành lý, còn người đi xa trở về lại muốn hưởng cảm giác thanh bình của những làng mạc nằm dọc theo dòng sông. Lòng tôi êm dịu quá, những đợt sóng nhỏ vỗ vào mạn đò êm như nhịp võng và tiếng ầu ơ của những trưa hè trong một xóm nhỏ của miền Nam ngày xưa, tôi để lòng trôi nổi theo những kỷ niệm một thời đã lắng xuống sau 30 năm tôi sống ở quê người.

Chập chờn theo tiếng sóng vỗ vào con đò tròng trành trên dòng sông, gió mát miền quê ru tôi vào giấc ngủ, lúc ấy đò vừa cập bến nên mọi người lao nhao đứng dậy để lên bờ, tôi mới ngây ngất nhìn thấy hai cây phuợng thắm bên giẻo sông này đang mùa hoa tưng bừng nở rộ. Hoa đỏ chi chít chen lẫn trong những cành lá xanh li ti xanh biếc, lòng lại bồi hồi xúc cảm vì bất chợt tìm lại những gì mất đã lâu nay bỗng dưng hiện ra trước mắt. Ôi chao! Cũng những cánh hoa tả tơi rơi trên mặt đất, cũng cây phượng hồng bên mé sông, chỉ khác là hôm nay tôi không còn là cô nữ sinh tuổi mười bảy của những năm tháng trước. Hai cây phượng hồng che bóng mát cho một cái quán nghèo nhà quê, bán trái cây và những thứ kẹo bánh, đồ chơi cho trẻ con, người làng xã mỗi lần ra bến chờ chuyến đò ra tỉnh.

Mỏi chân nên tôi ngồi nghỉ nơi cái bàn của quán nước ở ngoài hiên, chờ chị bạn lấy hành lý về thăm nhà bà con, bảo người phụ nữ chủ quán có nét mặt hiền hoà đôn hậu chặt cho tôi một trái dừa xiêm nhỏ. Biết tôi khách phương xa, chị quày quả gọi vào bên trong lấy cho tôi một trái dừa tươi nhất từ trên cây phía sau nhà. Khi người đàn ông chống đôi nạng gỗ khập khễnh bước ra đem trái dừa cho vợ, mắt tôi loà nhoà một hình ảnh rất thân quen, mặc dù thời gian và tuổi tác đã cày sâu trên khuôn mặt, nhưng chắc chắn là tôi không lầm. Trời ơi! Anh đấy ư? Có thể nào như thế nếu như trời vẫn còn bắt tôi gặp lại người xưa trong cảnh huống này, con người quả có số phận, nhưng nỡ nào chiến tranh lại lấy đi của anh nhiều như vậy? Một cái chân bỏ lại chiến trường, cộng thêm một con mắt khiến anh khó lòng nhận ra tôi lúc ấy, chính tôi cũng thay đổi nhiều rồi, nhưng so sánh giữa hai cảnh đời thì anh gánh chịu quá nhiều mất mát.

Không nén được cảm xúc, tôi uống một ngụm nước dừa nhưng lại không cảm được cái ngọt lừ của nước mát quê hương. Thấy anh đi vào, tôi bật đứng dậy chạy gọi với theo khiến người vợ cũng ngạc nhiên:

“Anh … anh gì ơi, cho tôi hỏi thăm.”

Anh ngạc nhiên đứng lại, cây nạng gỗ dựa bên khiến dáng anh khập khiễng làm lòng tôi càng thương cảm. Rồi nhìn tôi chăm chú bằng con mắt còn lại, linh tính đã nhận ra tôi là người quen năm cũ, anh bình tĩnh mỉm cười, nụ cười ấy tôi nhận ra ngay như ngày nào gặp lại nhau trong tiệm bách hoá. Anh hỏi:

“Mới về hả?”

Tôi nhìn anh lòng rộn lên niềm vui, lí nhí nói:

“Ừ, mới về!”

Trong bao nhiêu năm cứ như thời gian không ảnh hưởng gì đến cái tình năm xưa trong quá khứ, anh nói tiếp:

“Không ngờ quả đất tròn thiệt, tôi không ngờ mình còn sống để có ngày gặp lại”.

Chúng tôi trở lại bàn dành cho khách uống nước, chờ chị bạn để về nhà. Vợ anh lăng xăng mừng rỡ:

“Cô đây quen với mình hả?”

Anh gật đầu vui vẻ:

“Quen, hồi anh còn đi học nhưng lâu rồi không gặp, cũng mấy chục năm rồi mà còn nhận ra nhau. Bữa nay em chuẩn bị làm cơm mình đãi khách quý, hình như cũng là bạn của cô Út cháu bà Hai trong xóm mới từ nước ngoài về?”

Tôi gật đầu, chị bạn tôi cũng vừa đến, nhất định tôi phải thuyết phục chị buổi chiều đến nhà anh ăn bữa cơm hạnh ngộ. Thấy anh lom khom với cây nạng, tôi dò hỏi:

“Sao anh không dùng xe lăn cho khoẻ?”

Anh mỉm cười nhẫn nhục:

“Ở nhà quê đường xá gập ghềnh, chống nạng tiện hơn, cái chân này cũng vững vì nó biết phải bảo vệ cái chân kia cho mình khỏi té.”

Trời ơi, bao nhiêu năm vốn văn chương vẫn còn nguyên trong trí nhớ của người học trò, vẫn khí phách của người lính dám đứng thẳng đối phó với hoàn cảnh. Chắc anh khổ nhiều mà không nói ra, nhưng tâm tôi đã quyết phải làm một cái gì cho anh. Trả ơn những bài thơ chép trong cuốn vở, trả ơn những cánh hoa khô ép trong thơ đã cho tôi những tháng ngày mộng mơ tuổi học trò, trả ơn người lính đã đánh mất phần thân thể cho tôi được bình yên trong thời chinh chiến.

Hai ngày theo chị bạn về quê, nơi này làng xóm thân cận nên ai cũng biết nhau, cũng không ai biết gì về sợi dây thân tình của anh thương phế binh với người phụ nữ trung niên từ xa mới về. Mẹ anh chết lâu rồi, anh trở về sống trong căn nhà hương hoả của gia đình, an phận với nếp sống đạm bạc rau trái trong vườn, mãi mới chịu lấy vợ để tuổi già đỡ hiu quạnh. Hai đứa con anh lớn lên được cho ra tỉnh trọ học y như cha chúng nó ngày xưa, nhưng khá hơn vì đã hết chiến tranh, ngày nghỉ vẫn theo đò về quê thăm cha mẹ. Anh đối đãi tôi bằng mối thâm tình của người anh với cô em gái, sau bữa cơm khá thịnh soạn có món gỏi gà trộn rau răm bắp chuối, chị lưỡng lự chưa dám cầm món quà của tôi nhét vào túi áo chị dù biết rằng nó sẽ giúp anh chị thực hiện những ước mơ, như làm lại cái quán nhỏ để mưu sinh qua ngày, bán thêm vài thứ đồ chơi rẻ tiền cho trẻ con trong xóm.

Anh thở dài rồi cũng phải nhận món quà của người em gái một thời còn nợ anh những bông hoa phượng ép trong cuốn vở, nhưng vẫn nói:

“Cảm ơn cô đã nghĩ đến anh, sau chiến tranh anh được về với mảnh đất quê nhà là may mắn rồi, còn biết bao đồng đội của anh què chân cụt tay lê la ngoài đầu đường xó chợ không có ai giúp đỡ. Nếu có lòng, em cố giúp những người ấy, phần anh như vậy đã quá đủ, còn có hai cây phượng bên bờ sông nở hoa mỗi độ hè về, đâu ao ước gì hơn nữa.”

Xế trưa hôm sau nữa tôi và chị bạn trở ra tỉnh để lên Sàigòn chuẩn bị chuyến bay. Lúc vợ anh bận bịu bán hàng cho khách trong quán, chị bạn tôi cũng lăng xăng từ biệt gia đình người bà con, mắt ai cũng rươm rướm hẹn lần tái ngộ. Lúc ấy tôi có dịp đứng một mình với anh dưới tàng cây phượng vĩ, rực rỡ những bông hoa đỏ lung linh in bóng xuống dòng sông. Vướng một chút hắt hiu khi nắng chiều rọi vào khuôn mặt đã hằn dấu vết thời gian, anh nói nhỏ:

“Em vẫn còn giữ được nụ cười năm xưa. Bây giờ có hiểu tại sao anh lại trồng hoa phượng, cũng chỉ bởi muốn giữ trong lòng những kỷ niệm thời đi học.”

Tôi gật đầu không nói, nhưng mắt lại rưng rưng khi hiểu rằng trong trái tim anh thấp thoáng vẫn còn hình ảnh cô bạn nhỏ thời đi học. Chắc khó gặp lại nhau lần nữa, khi con đò tròng trành rời bến ra giữa sông, bóng anh nhỏ dần nhưng mắt tôi vẫn ngoái trông những bông hoa phượng rưng rưng nơi bờ sông lộng gió…

Bé Biển

Trên tường, lẫn trong nhiều bức hình rất đẹp được chụp từ một ống kính chuyên nghiệp là tấm hình của chiếc ghe mong manh, nhỏ bé, bồng bềnh trên đại dương. Trên khoang ghe, các thuyền nhân Việt Nam (những boat people đã đánh động lương tâm thế giới vào những năm 70s và 80s) mặt mày ngơ ngác mệt mỏi nhưng mắt sáng lên hy vọng. Đó là món quà tặng cho BS HQM từ một thuyền nhân cùng tàu vượt biển năm xưa.


Mọi người trên ghe gọi em là "công dân của đại dương" vì em sinh ra giữa biển trời mênh mông, không thuộc hải phận của quốc gia nào, vào một đêm trời chuyển mưa, trời không trăng sao, lâu lâu có những tia chớp lóe lên soi sáng đêm đen.

Chiếc ghe rời cửa biển Long Hải lúc nửa đêm về sáng để tránh công an biên phòng, đưa gần bảy mươi thuyền nhân trốn khỏi quê cha đất tổ, đem sinh mạng mình đánh cuộc với định mệnh để tìm tự do và tương lai. Trong số đó có hai vợ chồng trẻ, người vợ ốm yếu mảnh mai, lại mang thai lần đầu, mặc hai ba lớp áo quần nên hình như không ai biết chị có thai đã bảy tháng, ngoài anh chồng trẻ cũng mảnh khảnh như chị.

Mà nếu có biết cũng chẳng ai còn tâm trí nào để nghĩ đến chuyện người khác khi trong lòng mình cũng "ngổn ngang trăm mối". mà mối lo lớn nhất là có thể bị bắt lại, bị nhục hình, bị tù tội trong khi mình không có tội gì hết, chỉ bỏ xứ ra đi, bỏ ông bà cha mẹ, bỏ tất cả ra đi vì muốn có tự do.

Vừa đặt chân lên sàn ghe, tất cả mọi người đều được đưa xuống lòng ghe để bảo đảm an toàn. Nếu có bất cứ ghe tàu nào đi ngang, nhìn vào người ta chỉ thấy trên khoang ghe có vài ngư phủ đi thả lưới ban đêm để có được một ít cá tôm tươi cho vợ hoặc mẹ mang ra bán ở buổi chợ sáng ngày mai. Nhất là vào ban đêm, ánh đèn bão tù mù, vàng úa giúp những người đang trốn chạy khỏi quê hương che được nét ưu tư lo lắng.

Phía dưới lòng tàu, thông thường chỉ để lưới, xăng dầu, thức ăn của ngư phủ, mấy thùng nước ngọt, và mấy thùng đựng cá tôm lưới được vào những hôm ra khơi nhiều may mắn. Vậy mà bây giờ gần bảy mươi con người ngồi chen chúc, không khí đã thiếu lại càng ngột ngạt hơn khi rất nhiều người bị say sóng ói mửa ngay trên sàn tàu, trên áo quần của mình hay của người ngồi bên cạnh. Không ai nói với ai tiếng nào. Khi ghe chưa ra đến hải phận quốc tế, người ta chưa sợ chết vì đại dương bao la, vì thiếu nước ngọt, thiếu thức ăn, mà đích đến thì còn ở xa mù tít tắp, nhưng nỗi sợ bị công an biên phòng bắt được thì tù tội, nhục hình cũng kinh hoàng như nỗi chết. Nỗi sợ đó lớn quá, bao trùm lên mọi thứ, át đi sự ngột ngạt trong một hầm ghe quá tải, át đi mùi của mọi thứ trong bụng chưa kịp tiêu hóa chạy ngược lên miệng tuôn ra ngoài. Khi thức ăn đã ra hết, cả đến mật xanh cũng theo ra, người ta mệt nhoài, không còn sức để sợ bị bắt lại, không còn sức để cảm nhận được không khí ngột ngạt, nặng mùi chung quanh mình. Ở một góc ghe, người đàn bà trẻ đang mang thai lại tỉnh táo hơn mọi người, hơn cả ông chồng cũng vật vờ say sóng, nôn mửa như hầu hết mọi người trên ghe. Lòng ghe tối đen, không ánh sáng, không cả tiếng động, thời gian tưởng như ngưng lại. Lâu lâu có một chút ánh sáng xanh yếu ớt từ cái đồng hồ đeo tay có dạ quang của ai đó. Đêm dài và sâu hơn với những người đang trốn chạy khỏi quê hương.

Vào đêm thứ nhì của cuộc trốn chạy bằng đường biển, người đàn bà đang mang thai chợt thấy đau nhói ở bụng. Đây là con đầu lòng, chị không có kinh nghiệm về chuyện sinh đẻ. Trong bóng tối đặc quánh trong lòng chiếc ghe mong manh chật như nêm, một tay nắm tay chồng, một tay chị chị nhẩm tính trên những ngón tay xem mình đã có thai bao nhiêu tháng.

Họ lấy nhau tháng chín năm ngoái, sau mười lăm tháng quen nhau ở vùng kinh tế mới Đồng Bò, ngoại ô Nha Trang. Chị cố quay lại khúc phim tình yêu lãng mạn của anh chị để quên đi nỗi đau âm ỉ trong bụng. Tình yêu trên vùng đất khô cằn, -ngay cả hoa dại cũng không mọc nổi, không trồng được gì hết ngoài khoai mì, - nhưng rất chân thành, sâu đậm vì đó là tình đầu của cả anh và chị. Họ lấy nhau, không có đám cưới bình thường, chỉ có một lễ ra mắt hai bên họ hàng (cũng chỉ lưa thưa mấy người đàn bà vì đàn ông dạo đó hầu hết đã ở trong lao tù cải tạo vì "tội ngụy quân ngụy quyền") bằng một mâm cơm... trắng (không bị độn khoai sắn như bữa ăn thuờng ngày của người dân kinh tế mới) và vài món ngon như nem, chả được gởi mua từ chợ Đầm ở Nha Trang. Hôn thú cũng chưa làm vì "ủy ban nhân dân xã kinh tế mới" vừa thành hình, chưa có con dấu. Về nơi ở cũ thì bị từ chối vì "hộ khẩu đã bị cắt". Nhưng gia đình vẫn cho họ lấy nhau, vì “phải nương nhau mà sống, không phải ở cái vùng kinh tế mới hoang vu này, mà sau này, đi đâu cũng nương tựa vào nhau….”. Mẹ chị đã căn dặn anh chị như vậy ở một lễ cưới dã chiến, không có khăn áo, không có make up, và không có cả họ hàng, quan khách. Mấy miếng chả heo màu trắng - chắc là tỉ lệ thịt và bột ngang nhau -, mấy miếng nem hồng nhạt dành cho hai đứa em chưa đến tuổi đi học, lần đầu tiên trong đời được nếm mùi nem chả. Anh chị nhường nem chả cho các em, ăn cơm với canh rau muống, sau khi đã ăn mấy lát gừng mỏng chấm muối như phong tục ngàn xưa“gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”.


Hơn nửa năm sau ngày cưới, một lần về Nha Trang mua hạt giống, anh gặp một người lính hải quân làm dưới quyền ba anh ngày xưa. Thương anh cựu sinh viên Khoa học thư sinh kính trắng phải cày sâu cuốc bẩm nuôi mẹ, nuôi em khi ba ở trong tù cải tạo, người lính hải quân sắp lái một chuyến tàu vượt biển, được chủ ghe cho mang theo cả gia đình, cho anh và chị đi theo.

Bụng chị vẫn đau, chị ước gì mình bị say sóng ngủ vùi, hoặc lã đi vì mệt như anh, như tất cả mọi người trong lòng ghe. Nhưng cơn đau vẫn chẳng chịu đi, lúc âm ỉ, lúc nhói lên, chị xanh mặt, vả mồ hôi chịu đựng, tự nhủ trong đầu:

- Không sao, đau một chút rồi sẽ hết. Mình chưa đẻ đâu, đến hôm nay nhiều lắm là 29 tuần, ít nhất cũng cả tháng nữa mới sinh.

Hết tự bảo mình, chị cúi xuống rờ tay lên bụng, thì thầm trong bóng tối:
- Con ơi, nằm yên nha, để đến trại tỵ nạn rồi hãy ra nghe con, an toàn hơn cho cả con và mẹ.

Cơn đau chỉ lắng xuống một vài giây, rồi lại nhói lên quặn đau mỗi lúc một nhiều hơn. Chịu không nổi, chị đành lay vai anh:
- Anh ơi anh, chắc em đang chuyển bụng đẻ.

Đang vật vờ say sóng, nghe vợ sắp sinh, anh tỉnh hẳn, mở mắt nhìn quanh, rồi hỏi chung quanh:
- Có ai biết đở đẻ không? Xin giúp vợ tôi.

Câu hỏi làm mọi người trong cái khoang ghe tối đen, ngột ngạt tỉnh hẳn lên. Giữa lúc mọi người đang vượt đại dương, có một phụ nữ trẻ sắp "vượt cạn". Có ai đó thò đầu lên khỏi hầm ghe, hỏi xin một ánh đèn cho sản phụ.

May là ông chủ ghe cũng thuộc loại người nhân từ, và ghe đã ra đến hải phận quốc tế, nên chị được đưa lên khoang ghe. Anh cũng được đi theo cùng chị. Họ tỉnh hẳn ra khi ra khỏi hầm ghe, được hít thở không khí trong lành của đại dương, cũng là không khí của tự do mặc dù đích đến còn ở xa, xa lắm. Chị thấy khỏe hơn mặc dù cơn đau vẫn không dứt, quặn lên từng cơn.

Vinh cũng được rời khỏi hầm ghe, lên sàn tàu cùng với anh chị vì Vinh là bác sĩ duy nhất trên chuyến ghe vượt biển đêm đó. Trời tối đen, Vinh cũng không biết lúc đó là mấy giờ, cái đồng hồ đeo tay đã rớt mất từ lúc nào. Dù đã từng làm việc đở đẻ từ cuối năm thứ tư y khoa trong ca thực tập đầu tiên ở bệnh viện Từ Dũ. Và từ đó đến giờ, dù không chuyên về sản khoa, Vinh cũng đã có dịp trực tiếp hoặc gián tiếp làm việc trong những trường hợp sinh thường, cũng như sinh khó, phải xoay đầu hài nhi từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, phải mổ để đem con ra khỏi bụng mẹ. Nhưng lần này giữa đại dương, trời tối đen, trên sàn tàu bằng ván lồi lõm còn mùi tanh của tôm cá, chỉ có một ngọn đèn bão tù mù mà người tài công tốt bụng đã cho mượn, không có thuốc khử trùng, không có alcohols, cũng chẳng có bông băng, hay bất kỳ một dụng cụ y khoa nào. Sản phụ lại sinh lần đầu, và Vinh không có một chi tiết nào về hồ sơ bệnh lý của chị. Chưa bao giờ Vinh tưởng tượng mình phải làm công việc tưởng như đơn giản nhưng cả hai sinh mạng đều đặt trong tay Vinh trong một đêm trời tối đen trên sàn một chiếc ghe vượt biển. Mọi thứ đều làm bằng tay, không có cả găng tay, phương tiện còn hạn chế hơn dụng cụ thô sơ của một cô mụ đỡ đẻ ở nhà quê từ nhiều thập niên trước. Dưới ánh đèn bão tù mù, phải mất gần một tiếng, từ việc xoay đầu em bé đến việc cắt cuốn rốn, em bé sinh ra đỏ hỏn, sớm hơn kỳ hạn bình thường một tháng nhưng khỏe mạnh. May mắn là sản phụ dù xanh xao, yếu ớt nhưng rất can trường, đã dùng hết sức bình sinh để đẩy được em bé ra ngoài từ cửa tử cung hẹp của một người sinh con lần đầu. Gió của đại dương nhanh chóng làm khô những giọt mồ hôi đầm đìa trên mặt của Vinh, của anh, và nhất là của chị, sản phụ can đảm nhất nhì thế giới, đã vừa vượt biển, vừa "vượt cạn" lần đầu, không có thuốc tê, không có thuốc mê, không có cả bông băng, nhưng chị không hề rên la, chỉ cắn chặt môi đến rướm máu chịu đựng. Nếu chị không tự đẩy em bé ra được, Vinh cũng không biết mình phải làm gì trong tình trạng không thuốc men, không dụng cụ. Mãi về sau, sau này, sau nhiều năm hành nghề Y khoa ở Mỹ, có dịp chẩn đoán, điều trị cho rất nhiều bịnh nhân thuộc nhiều chủng tộc, nhiều lứa tuổi khác nhau, chị vẫn là bệnh nhân can đảm nhất của Vinh.


Anh đứng bên cạnh là một chỗ dựa tinh thần cho chị, và một phụ tá đắc lực cho Vinh. Người chồng sắp được làm cha, lại vô tình trở thành y tá bất đắc dĩ phụ việc cho Vinh trong một ca đỡ đẻ rất khác thường trên một chuyến tàu vượt biển. Em bé gái mới ra đời được tắm bằng nước biển Đông, được cắt nhau bằng đầu móng tay cái và móng tay trỏ của Vinh. Những đầu móng tay Vinh bắt đầu để dài từ lúc bắt đầu chơi guitar với sự hướng dẫn của một ông thầy dạy môn Nhạc từ những năm đầu Trung học, không ngờ lại được dùng rất có hiệu quả trong trường hợp hy hữu giữa biển khơi. Không có alcohol để tẩy trùng, Vinh đến bên mạn thuyền, múc nước biển lên rửa tay. Muối của đại dương cũng ít nhiều sát trùng những đầu ngón tay của Vinh trước khi Vinh cắt cuốn rún của em bé sơ sinh.

Em được bọc bằng hai lớp áo, lớp trong là cái áo thun của cha, lớp ngoài là cái áo khoác của mẹ. Tiếng khóc đầu tiên của em, của mầm sống mới đem lại nụ cười cho Vinh, cho anh và chị, và hy vọng cho một đời sống mới tự do, tốt đẹp hơn cho mọi người trên ghe. Em ra đời an lành giữa biển Đông, sớm hơn thời hạn bình thường (9 tháng 10 ngày) gần một tháng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Và dĩ nhiên không có cân, không có thước để biết trọng lượng, và chiều cao của em.

Trong niềm vui vừa hoàn thành một ca đở đẻ có một không hai trong đời, Vinh trao em bé cho sản phụ, dùng nước biển để rửa tay. Giữa biển trời mênh mông, không có xà bông, không có alcohol sát trùng, không có cả nước thường để rửa tay. Vinh đến bên thành ghe, một tay bám chặt vào thành ghe, tay kia múc nước biền bằng một cái thùng nylon để rửa tay, và rửa em bé cùng sàn ghe. Sau vài phút vui mừng cạnh vợ con với niềm vui của một người lần đầu làm cha, người chồng trẻ vừa rối rít cảm ơn, vừa giúp Vinh dọn rửa sàn ghe, nơi một con người bé bỏng vừa chào đời trong đêm tối giữa biển trời bao la. Cũng như cha mẹ không được làm hôn thú ở một vùng kinh tế mới, em cũng không được làm khai sinh giữa biển trời, trên một chiếc ghe tỵ nạn. Em được cha mẹ gọi là "bé Biển".

Trời sáng dần, mọi người tỉnh táo hơn, lạc quan hơn vì ánh sáng mặt trời luôn là người bạn tốt của những con tàu đang lênh đênh trên đại dương. Họ còn vui mừng hơn vì có thêm một mầm sống mới vừa chào đời bằng sự can đảm của người mẹ, bằng sự tận tình của một ông bác sĩ trẻ cùng là đồng hành trên chuyến vượt biển tìm tự do của họ.

Những ngày sau đó, dù vẫn phải ăn uống dè chừng vì không biết khi nào mới đến được đất liền, Vinh vẫn được đối xử tử tế hơn, được ông bà chủ ghe mời lên ngồi trên khoan tàu, được hít thở không khí trong lành của đại dương. Vinh cũng được phân phát thức ăn theo tiêu chuẩn đặc biệt, nhưng Vinh cũng chỉ ăn như khẩu phần của mọi người trên ghe, nhường phần đặc biệt đó cho người mẹ mới sinh ốm yếu mảnh mai, cần ăn nhiều để còn có sữa nuôi con sơ sinh.

Những chuyện bình thường đó được rỉ tai bởi những người còn tỉnh táo, khỏe mạnh trên ghe, và như một vết dầu loang, người ta đối xử tốt đẹp với nhau hơn. Một vài người lớn tuổi được những người trẻ hơn nhường phần nước uống hiếm hoi được phát hai lần mỗi ngày. Các em bé được ăn thêm vài muỗng cơm từ những người lớn trên tàu. Chuyện tưởng như đơn giản trên đất liền trong hoàn cảnh bình thường, nhưng là cả một niềm an ủi, một niềm tin khi con người đang trốn chạy khỏi quê hương, đang lênh đênh trên đại dương, không biết lúc nào mới đến bờ, đến bến.

*

Bốn ngày sau, chiếc thuyền mong manh của những thuyền nhân Việt Nam chạy trốn chế độ Cộng sản may mắn được một con tàu buôn của Ý trông thấy. Họ đến gần và cho tất cả người tỵ nạn lên tàu của họ, cho ăn uống. Họ đặc biệt cho bé Biển nhiều món quà quý, trong đó có một cái mỏ neo nhỏ như một lóng tay, - làm bằng vàng, biểu tượng của chiếc thương thuyền -, sau khi nghe kể em được sỉnh ra vài ngày trước đó trên sàn con thuyền mong manh không có một dụng cụ thuốc men nào, ngoài sự can đảm của mẹ em, và sự tận tình của một bác sĩ trẻ được đào tạo ở Đại học Y khoa Saigon trước năm 1975. Như luật hàng hải quốc tế vì sinh ra ở hải phận quốc tế nên bé Biển có quốc tịch Ý, chiếc tàu đầu tiên có mang cờ một quốc gia em được mang lên.

Trước khi đưa từng thuyền nhân lên tàu lớn, họ có ghi lại hình ảnh của chiếc ghe mong manh và những thuyền nhân mặt mày hốc hác nhưng ánh mắt rạng rỡ vì biết chắc chắn mình sẽ đến được bến bờ tự do. Ông thuyền trưởng đích thân ra trước mũi tàu chụp hình. Bên kia, bác sĩ Vinh được những người trong ghe cử ra nói chuyện với đại diện của tàu Ý. Vinh cũng đứng trước mũi của chiếc ghe tỵ nạn, bên cạnh chiếc tàu buôn như một em bé gầy yếu đứng trước một người khổng lồ. Tấm hình đó không một người tỵ nạn nào có dịp trông thấy. Ngoài một số người muốn được định cư ở Ý, tất cả thuyền nhân còn lại được đưa đến trại tỵ nạn và được đi định cư ở nhiều nước khác nhau.

Ông thuyền trưởng nghe Vinh kể chuyện đỡ đẻ rất hiếm hoi đã giơ cả hai tay lên trời:
- Tôi cảm phục lòng can đảm của sản phụ, tôi cảm phục sự bình tĩnh và tận tình của bác sĩ. Tôi cảm phục lòng quả cảm của tất cả các bạn. Thượng Đế đã phù hộ các bạn.

Ông ta còn nói nhiều điều nữa, nhưng Vinh chỉ nhớ câu đó, và nhớ nụ cười hiền từ nhân hậu của người thuyền trưởng người Ý da trắng, tóc đen.

Vinh đến Mỹ vào cuối năm 1979, đi học lại một số lớp để có thể thi lấy bằng Medical Doctor ở Mỹ và thi lấy giấy phép hành nghề. Kiến thức của những năm Y khoa Saigon giúp Vinh rút ngắn được hơn nửa đường học trình của một Bác sĩ chuyên khoa ở Mỹ. Cứ lấy các "equivalent test" của từng giai đoạn, đậu được mỗi bài test là khỏi phải học ít nhất là hai học kỳ (tương đương một năm). Cứ từ dễ đến khó, Vinh lần lượt đậu từng bài thi và không phải học lại, chỉ phải đi thực tập nội trú (Internship) trong một bệnh viện ở New York trước khi được cấp bằng hành nghề. Lúc đó còn trẻ, chưa lập gia đình, dù không phải học lại 5 năm đầu của chương trình Y khoa ở Mỹ, Vinh vẫn chăm chỉ đọc sách và học thêm một lớp căn bản về "Business Law".

Mỗi tuần làm việc từ bốn đến năm mươi giờ ở bệnh viện từ phòng cấp cứu đến các phòng bệnh nội trú, Vinh gặp bệnh nhân đủ mọi lứa tuổi, mọi màu da. Có người suốt ngày rên rỉ, có người chỉ nhăn mặt khi thiếu thuốc giảm đau, có người luôn cố giữ nụ cười lạc quan để thêm tinh thấn chiến đấu với bệnh tật. Không có ai can đảm như người sản phụ thuyền nhân giữa đại dương năm nào, kể cả những người sinh con giữa một bệnh viện đầy đủ thuốc men, dụng cụ, y tá, bác sĩ, đã được chích thuốc giảm đau mà vẫn rên la.

Xong một năm nội trú ở New York, những ngày đầu chính thức hành nghề y khoa trong một bệnh viện ở Chicago, những khuôn mặt bệnh nhân đủ mọi cá tính đến rồi đi trong từng ngày làm việc của Vinh, vẫn chưa có ai vượt qua được sự can đảm chịu đựng của người sản phụ trên chiếc ghe mong manh vượt biển ngày trước. Giữa những tiện nghi dành cho một bác sĩ ở Mỹ, thỉnh thoảng Vinh vẫn nhớ đến nước Thái bình dương đã rửa tay cho mình và tắm cho em bé sinh giữa đại dương. Vị mặn của nước biển có thể sát trùng một cách tương đối, đã giúp một em bé thuyền nhân chào đời an toàn, khỏe mạnh trên sàn ghe giữa biển trời mênh mông.

 Rồi Vinh lập gia đình, dọn về San Jose ở California với khí hậu ven biển ấm hơn giống Việt Nam hơn, và để một lúc nào đó những đứa con chào đời sẽ có nhiều cơ hội học tiếng Việt hơn. Lúc đó là đầu thập niên 80s, cộng đồng Việt Nam ở Mỹ chưa lớn mạnh, những lần hiếm hoi gặp bệnh nhân người Việt ở bệnh viện Kaiser, họ cứ hỏi Vinh có khám thêm ở nhà ngoài giờ làm việc để họ đến nhờ giúp khi bệnh hoạn. Một, hai, năm, bảy rồi cả chục lần được yêu cầu như vậy, Vinh quyết định xin thôi việc ở bệnh viện, mở phòng khám tư, tự do hơn.


Lần đầu tiên mở phòng khám tư, lại là phòng khám ở Mỹ, một nơi mà nguyên tắc, và luật pháp rất nghiêm nhặt, Vinh phải mò mẩm từng bước để xây dựng phòng khám bệnh của mình. Thời đó, đầu thập niên 80s, cộng đổng tỵ nạn của người Việt còn non trẻ, bệnh nhân của Vinh thuộc đủ mọi chủng tộc, từ những người bản xứ hay đến phòng mạch của ông bác sĩ trẻ còn giữ nguyên tính kính trọng người lớn tuổi của người Việt Nam, đến những người di dân gốc Nga, gốc Tàu, gốc Ý, gốc Mễ... Và dĩ nhiên cũng có những bệnh nhân Việt Nam chịu khó lái xe vài chục dặm để được một bác sĩ đồng hương chăm sóc.

Cũng chính nơi đây, Vinh gặp lại nhiều bạn học đã mất liên lạc từ ngày xong tú tài, mỗi người mỗi ngả:

- Phúc và Lan di tản từ tháng 4 năm 1975, vẫn không thay đổi nhiều so với ngày còn ở Trung học, tương đối thành công, vẫn mang theo cả một thời mới lớn ở Việt Nam có những lý tưởng màu hồng dù lâu lâu vẫn nghe tiếng súng vọng về từ một chiến trường nào đó rất gần thành phố.

- Xuân đi từ trường Ngô Quyền vào trường Võ bị, vừa cởi áo trắng học trò, khoác ngay áo treillis của lính, không có thì giờ mặc áo dân sự giữa một đất nước chiến tranh. Nước mất, Xuân phải vào "trại cải tạo", mặc áo màu sậm, xám xịt như đời “tù.... không có tội”. Ra khỏi nhà tù nhỏ, Xuân về nhà tù lớn chỉ vài tháng rồi vượt biển, và chịu khó cắp sách đi học lại đến ngày thành kỹ sư ở thung lũng điện tử của miền Bắc California.

- Tuấn rời Việt Nam qua Nhật du học từ năm mười tám. Học vừa xong, thì nước mất, không còn nhà, không còn quê hương để quay về. Một sáng đầu tháng 5 năm 1975, mở mắt dậy, bỗng dưng thành một người "vô gia đình, vô tổ quốc”, Tuấn quyết định đi xa hơn nữa khi Mỹ cấp free pass vào Hoa Kỳ cho các sinh viên VN đang du học ở các nước tự do trên thế giới vào thời điểm tháng 4 năm 1975. Tuấn ổn định đời sống ở Mỹ từ năm 1976. Phiêu bạt từ Việt Nam qua Nhật, rồi Mỹ, ở đâu người bạn thân của Vinh cũng mang theo hình ảnh hiền hòa, thâm trầm như nhân vật cùng tên trong "Tuấn chàng trai nước Việt".

- Tấn đậu tú tài, vào Không quân, được đi tu nghiệp ở Mỹ, về nước chưa kịp đóng góp nhiều cho đất nước thì "chim gãy cánh mây ngừng trôi ", Tấn vô tù vì vận nước, rồi trở về làm đủ mọi nghề để sống đến khi được qua Mỹ theo diện HO, là người đến đất nước tự do muộn màng nhất trong lớp.

Cả một cái lớp tứ hai ở Ngô Quyền xưa lưu lạc khắp nơi trên thế giới, gần một phần tư lớp hội tụ ở San Jose, mỗi lần gặp nhau vui hơn Tết, chuyện trò râm ran, tiếng cười vang lên như ngày xưa còn ở tuổi "ăn chưa no, lo chưa tới" ở quê nhà.

Nhưng vui nhất là lần Vinh gặp thầy Hợp, thầy dạy Toán năm đệ tam ở quê nhà. Thầy định cư ở Mỹ vảo thập niên 90s, lúc đó cộng đồng Việt Nam ở vùng thung lũng điện tử San Jose đã quần tụ khá đông. Chân ướt chân ráo ở quê người, chưa có xe, từ nhà, Thầy đi hai chuyến xe bus đến khu vực thuơng mại đông đúc nhất của người Việt ờ San Jose, lấy một tờ báo quảng cáo để tìm một ông bác sĩ đồng hương ở quê người. Và thầy tìm ra cậu học trò thông minh, hiền lành năm xưa đang hành nghề "lương y" ở một con đường yên tĩnh gần downtown. Trong mục quảng cáo của một tờ báo VN, trong danh sách các Bác sĩ Việt Nam ở San Jose, thầy Hợp tìm thấy tên của cậu học trò thông minh, hiền lành ở cù lao Phố, Biên Hòa ngày xưa. Bao nhiêu năm đứng trên bục giảng ở nhiều trường Trung học lớn ngày xưa, như một người lái đò đưa hàng ngàn người khách qua sông; có một vài khuôn mặt, vài cái tên Thầy không hề quên.

Gần như chắc chắn đó lả học trò cũ của mình ngày xưa, nhưng muốn dành cho cho Vinh một bất ngờ, thầy Hợp vẫn gọi điện thoại lấy hẹn, đến văn phòng đúng giờ, làm việc với mấy cô thư ký, điền hồ sơ cho một bệnh nhân mới, rồi kiên nhẫn ngồi đợi như bao nhiêu người khác.

Gần cuối buổi làm việc, Vinh được cô thư ký chuyển vào hồ sơ của bệnh nhân kế tiếp. Nhìn cái folder màu vàng nhạt còn mới toanh của một bệnh nhân mới, Vinh liếc qua tên bệnh nhân, và độ tuổi, cùng giới tính. Tên viết theo lối Mỹ, first name, last name, initial middle name, nên Vinh không hề nghĩ đó là thầy dạy Toán của mình thời trung học.

Vinh rời phòng làm việc của mình, đẩy cửa vào phòng có bệnh nhân, và thả rơi cái folder xuống nền nhà, không tin vào mắt mình. Cứ như một giấc mơ, thầy dạy Toán Nguyễn Thất Hợp của năm đệ tam đang ngồi cạnh bàn khám bệnh ở San Jose, California, chứ không phải cạnh bàn giáo sư của trường Ngô Quyền Biên Hòa như hai mươi năm trước. Thầy vẫn vậy, chỉ già đi theo năm tháng (như người Mỹ vẫn gọi là aging process) chứ không thay đổi. Ánh mắt nghiêm nghị vẫn còn, lấp lánh sau tròng kính trắng. Vinh quên hết nhiệm vụ của mình, quên hết mình đang khám bệnh, quên là mình đã ở xa quê nhà cả một đại dương, mừng rỡ chào Thầy, vẫn cung kính như ngày xưa còn là học trò trung học.

Từ đó, thầy Hợp được học trò chăm sóc sức khỏe rất chu đáo. Không biết vì bản chất Thầy vốn khỏe mạnh, vì Vinh chăm sóc cho Thầy không chỉ bằng kiến thức chuyên môn của một bác sĩ, mà còn bằng tấm lòng của một người học trò cũ, hay vì cả hai lý do, thầy Hợp trông khỏe mạnh và trẻ hơn so với những người cùng độ tuổi.

*


Tưởng đó là lần hạnh ngộ vui nhất trong đời ở phòng khám bệnh, nhưng có một lần khác, ngạc nhiên òa vỡ lớn hơn, đưa Vinh về với vị mặn của gió biển, với lần duy nhất hành nghề y khoa dã chiến giữa trời nước mênh mông.

Đó là một ngày mùa hè, ngày dài đến hơn 14 tiếng, bóng nắng vẫn còn lung linh trên hàng cây cổ thụ ven đường, Vinh đã cởi áo blouse trắng, chuẩn bị về thì cô thư ký gọi vào cho biết có người quen cũ, đến từ Châu Âu kiên nhẫn đợi đến lúc bệnh nhân cuối cùng rời phòng mạch để được gặp bác sĩ Vinh.

Vinh đặt chìa khóa xe vào lại ngăn kéo, nhờ cô thư ký mời khách vào phòng làm việc. Đó không phải là một người khách, mà là một gia đình gồm ba người. Hai vợ chồng đã qua tuổi trung niên, và một cô thiếu nữ chắc vẫn cỏn trong độ tuổi hai mươi. Vinh cố lục lạo trí nhớ của mình để nhớ ra người quen nhưng vẫn không nhận ra được khách là ai?

Vinh mời khách ngồi, nhã nhặn:
- Xin lỗi, tôi có thể giúp gì được cho quý vị?

Người đàn ông mở lời, giọng Saigon rất thân quen:
- Thưa bác sĩ, chúng tôi từ Ý đưa bé Biển đến thăm bác sĩ, và để cảm ơn bác sĩ đã lo cho mẹ con cháu chu đáo trên biển đông năm xưa.

Vinh tròn mắt ngạc nhiên:
- Ô, anh chị ngày xưa trên con thuyền vượt biển tháng 6 năm 1979 từ Long Hải, Vũng Tàu.

Ngưởi đàn bà cười tươi tiếp lời bằng giọng Huế nhẹ nhàng:
- Thưa đúng rồi, bác sĩ còn nhớ chúng tôi?

- Không những chỉ nhớ mà còn phục sự can đảm chịu đựng của chị năm xưa khi sanh con đầu lòng trên sàn tàu vượt biển không có ánh sáng, không có thuốc men, không có cả dụng cụ.

Đó là lần hội ngộ với một bệnh nhân cũ bất ngờ, cảm động nhất của Vinh.

Từ chiếc tàu buôn của Ý năm xưa, 68 thuyền nhân, cộng với "công dân của đại dương", bé Biển, được đưa về trại tỵ nạn Pulau Bidong của Malaysia. Từ đó, họ đi định cư ở nhiều nước khác nhau. Vinh định cư ở Mỹ. Gia đình nhỏ ba người của bé Biển đi Ý vì cảm kích lòng tử tế của thủy thủy đoàn trên thương thuyền của Ý, và vì bé Biển mang quốc tịch Ý.

Từ đó, bận rộn với cuộc sống mới với một khởi đầu mới ở quê người, Vinh không còn dịp liên lạc với bất cứ một thuyền nhân nào trên chuyến tàu vượt biển năm xưa.

Gia đình bé Biển đến Ý, ổn định cuộc sống. Họ làm hôn thú cho mình và khai sinh cho con ở Ý. Trên khai sinh, tên của bé Biển là Nguyễn Thị Đại Dương. Và như một kỷ niệm suốt đời mang theo, sợi dây chuyền với chiếc mỏ neo bằng vàng luôn nằm trên cổ em từ lúc chỉ mới vài ngày tuổi. Vài năm sau, họ có thêm một cậu con trai sinh ở Rome, vẫn có cái tên Việt Nam là Nguyễn Thái Bình, tên Ý là Grato (nghĩa là cảm ơn). Đó là cách để họ nhớ đến Thái bình dương với ân tình từ rất nhiều người cả Việt Nam lẫn Ý.

Cho đến một ngày nọ, tin tức địa phương từ một tờ báo về chuyện một ngưởi thuyền trưởng tài ba, nhân từ về hưu sau hơn 30 năm lênh đênh trên các đại dương, giúp họ tìm ra vị thuyền trưởng đã cứu vớt con tàu nhỏ bé năm xưa của những người Việt Nam tỵ nạn. Họ tìm đến gặp ông, và lần này đã có thể nghe ông kể lại câu chuyện và tâm trạng của ông năm xưa bằng tiếng Ý. Sau đó, họ được ông tặng tấm hình chụp con tàu tỵ nạn dạo nào, trên đó có họ gầy yếu xanh xao, có đứa con đầu lòng, bé Biển hãy còn đỏ hỏn, không có sữa uống, được nuôi bằng nước cháo.

Tấm hình được họ mang đến tiệm, nhờ chuyển qua dạng một cái plaque treo tường. Họ làm cho mình một, và một plaque thứ hai để dành tặng cho ông bác sĩ trẻ năm xưa giúp bé Biển chào đời an toàn trên sàn tàu vượt biên.

Bước vào thế kỷ 21, khoa học phát triển, google search giúp họ tìm ra bác sĩ Vinh. Vì ngày xưa trước lúc rời trại tỵ nạn, họ có hỏi thăm tên họ của Vinh. Nhờ một người bạn ở San Jose giúp đỡ thêm, họ đưa bé Biển, đã là một Bác sĩ sản khoa ở Ý, qua Mỹ thăm Vinh.

Cô bác sĩ trẻ người Ý gốc Việt nói với ông bác sĩ đã qua tuổi trung niên người Mỹ gốc Việt, bằng tiếng Việt rõ ràng, khúc chiết với giọng Huế pha Saigon:
- Thưa bác, con cảm ơn bác đã giúp cho con chào đời an toàn trên biển. Nghe ba mẹ con kể lại, và nhớ ơn bác năm xưa, con đã học sản khoa. Có lẽ suốt đời con không có cơ duyên đặc biệt như bác đã làm ngày con ra đời. Nhưng con nhớ hoài chuyện đó và vẫn kể cho bệnh nhân của con nghe khi họ sắp chuyển dạ để giúp họ thêm can đảm... Con cảm ơn bác rất nhiều

*

Thay cho lời kết:

Năm 2011, trong một lần đến họp và tập hát chuẩn bị cho hội ngộ cựu học sinh Ngô Quyền toàn thế giới lần thứ 2, ở phòng mạch của bác sĩ HQM, một đàn anh Ngô Quyền, chúng tôi thấy một plaque hình thuyền vượt biển khá đẹp, và được nghe kể lại một chuyện cảm động trên tàu thời đó.

Tấm plaque treo tường với chiếc ghe nhỏ bé chơ vơ giữa biển xanh đã thu hút sự chú ý của chúng tôi, một cựu thuyền nhân. Có những tình cờ trong cuộc sống để lại một dấu ấn suốt đời mang theo. 

 

Xin được ghi lại vài nét của một trong những chuyện không bao giờ quên trong lịch sử thuyền nhân. Hy vọng đời sống luôn có những người trọng tình nghĩa như những nhân vật trong chuyện, và những hạnh ngộ bất ngờ luôn luôn làm cho đời sống đẹp hơn.


(Viết từ một bức hình ở phòng mạch của BS Huỳnh Quang Minh. Thung lũng hoa vàng- đầu mùa xuân 2015

 

Nguyễn Trần Diệu Hương

.

May Mà Có Em .


Quỳnh lấy vé máy bay về Việt Nam một cách vội vàng, mấy ngày nay nàng ăn, nói, đi, đứng như người mộng du.

  Tình cờ sang Cali dự đám cưới người cháu, Quỳnh gặp lại Trang, người bạn học thân nhất, ngồi cạnh nhau trong giảng đường Văn Khoa. Trang cho Quỳnh biết mới sang Mỹ được hai tháng. Trước khi đi Trang về thăm quê nội ở Trà Vinh và đã gặp Tân! Thương binh cụt một chân, ngồi bán vé số ngoài vỉa hè độ nhật. Nghe tin Tân còn sống, tim Quỳnh co thắt, toát mồ hôi và xây xẩm cả mặt mày. Quỳnh thì thầm như người mất hồn. “Trời ơi! Tân ơi! Anh còn sống sao? Mấy chục năm rồi, Tân ơi! Anh có biết rằng em tiếc thương anh ngần nào không? Cám ơn trời Phật đã cho Tân còn sống!!!” Dù hoàn cảnh thế nào Quỳnh cũng phải trở về gặp lại Tân! Gặp lại sự sống của chính nàng.

Theo gia đình Trang dự lễ mãn khóa 22 sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Ngồi trên khán đài trong Vũ Đình Trường, sau bài diễn văn của Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng, tiếng loa uy nghi dõng dạc:

- Quỳ xuống các sinh viên sĩ quan.

 Sinh viên sĩ quan thủ khoa nhận kiếm, cung bắn đi bốn hướng tượng trưng chí trai tang bồng hồ thỉ, sau khi hàng ngàn sinh viên khác nhịp nhàng quỳ xuống thẳng hàng để được gắn cấp bậc sĩ quan.

- Đứng lên các tân sĩ quan.

 Chỉ cần hai động tác quỳ xuống, đứng lên với cấp bậc trên cầu vai biết bao tháng ngày gian lao! Những bữa cơm chan mồ hôi, nước mưa trong rừng cao su ... Ngoài bãi tập và biết bao gian nguy ngoài chiến trường chờ đón họ! Sau mười ngày phép cuối khóa của những người trai trong thời ly loạn! Phải “xếp bút nghiên theo việc đao cung”.

 Trên hai mươi năm qua rồi, đêm mãn khóa bập bùng kỷ niệm vẫn còn mới nguyên trong tâm hồn Quỳnh, đêm định mệnh để Quỳnh quen Tân do anh trai Trang; người bạn cùng khóa với Tân giới thiệu.

 Ngồi trong xe cạnh nhau, hai người chỉ trao đổi những lời thăm hỏi xã giao chừng mực. Ở Tân, Quỳnh thấy người con trai đã được tôi luyện qua gian lao, nắng mưa quân trường, tóc hớt cao, nước da bánh mật sạm nắng, tự dưng với tuổi mười bảy của đứa con gái mới lớn, Quỳnh thấy thương và tội nghiệp Tân quá đi thôi. Tân từ biệt mọi người – sau khi xin địa chỉ Quỳnh -ra bến xe miền Tây về quê thăm mẹ! Tân chỉ có hai mẹ con.

 Trước ngày ra đơn vị, Tân chọn binh chủng mũ nâu Biệt Động Quân như lời tâm sự: “Không đi lính thì thôi, đi phải chọn binh chủng xứng đáng và phải đánh đấm ra trò”. Tân có đến thăm Quỳnh đi phố, ăn trưa và trong bóng tối rạp Ciné Lê Lợi, cầm tay Quỳnh, Tân nói lời từ giã:

- Mai anh đi! Quỳnh ở lại vui! Ráng học giỏi.

 Tân ra đơn vị, Quỳnh thấy hụt hẫng trong lòng và tình cờ, tình tiết thương tâm trong cuốn phim “Le temps d’aimer c’est le temps de mourir” mà Quỳnh và Tân đã xem! Suốt thời gian dài sau này Quỳnh cứ tự hỏi: “Tại sao có một thời để yêu lại phải có một thời để chết???”.

 Chiến trận đã cuốn Tân đi biền biệt! Những địa danh mịt mùng xa xôi: Bình Định, Bồng Sơn, Tam Quan, Sa Huỳnh, Phá Tam Giang...tiếp nối trên đầu mỗi cánh thư đầy ắp yêu thương của Tân gởi về; một thứ hạnh phúc nhỏ nhoi mà nhiều lần Quỳnh đã mang vào giấc ngủ.

 Tình yêu qua những cánh thư đã làm Quỳnh trưởng thành, nàng đọc báo, nghe đài phát thanh, tin tức những trận đánh lớn đã khiến nàng bỏ ăn! Đóng cửa nằm yên trong phòng một mình.

 Quỳnh thường đi chùa! Một lần nghe có ông thầy ở Thủ Đức rất tài; làm phép trong tờ giấy bạc xếp thành hình tam giác, tránh được lằn tên mũi đạn. Quỳnh vội vàng thỉnh phép bọc bằng vải nhung tím, ép nylon gởi cho Tân và nàng bắt buộc Tân phải đeo bên mình, Tân phải sống để yêu thương nàng. Những gói mè xửng, chiếc nón bài thơ! Nhận được quà của Tân gởi về, Quỳnh cảm động mừng rơi nước mắt.

 Đơn vị Tân tham dự hành quân vượt biên sang Lào! Lam Sơn 719. Tiểu đoàn Tân vừa được đổ xuống một đỉnh đồi, và rồi trận chiến khóc liệt xảy ra!  Sau hai giờ chiến đấu bằng lựu đạn, đơn vị Tân đã bị tràn ngập... Ra trường chưa được hai năm Tân đã được thăng cấp tại mặt trận hai lần và giữ chức vụ Đại Đội Trưởng.

 Thân nhân gia đình đến hậu cứ đơn vị hỏi thăm tin tức về chồng con họ một cách nhiệt tình, tự nhiên. Thấy Quỳnh đứng rụt rè bỡ ngỡ, người sĩ quan hậu cứ đến hỏi:

- Xin lỗi cô tìm ai?

Quỳnh lí nhí:

- Dạ! Em muốn biết tin tức Trung Úy Tân Đại Đội Trưởng.

-  Cô là gì của Trung Úy Tân?

-  Dạ! Vợ.

Má Quỳnh ửng đỏ. Người sĩ quan hậu cứ ranh mãnh trả lời nàng:

- Đơn vị đang trong vùng hành quân! Có tin tức gì tôi sẽ thông báo cho bà sau.

 Chữ bà đã làm Quỳnh ngượng ngùng làm sao ấy. Nghĩ cho cùng rồi cũng đúng thôi. Quỳnh đã trao đời con gái cho Tân sau lần thăm ở Pleiku, khi Tân đang nằm điều trị ở Quân Y Viện để gắp một mảnh lựu đạn xuyên vào vai. Quỳnh chưa biết đam mê xác thịt, nàng muốn có con với Tân. Nếu lỡ Tân không về nàng còn giữ được giọt máu cho Tân! Cho mẹ Tân có người nối dõi tông đường! Quỳnh không có thời gian chọn lựa trong vòng tay Tân! Tình yêu đếm bằng phút giây với nỗi chết không rời! Tội cho Quỳnh biết bao! Khi lỡ có người yêu ngoài mặt trận.

 Quỳnh tỉnh dậy trong nhà thương, khi tuần sau lên hậu cứ và được người sĩ quan trực trả lời:

- Xin thành thật chia buồn cùng bà! Trung Úy Tân được báo cáo đã mất tích.

 Ba năm trời Quỳnh đi mọi nơi, hỏi không biết bao người đội mũ nâu; không nhận ra được một tin tức nào của Tân.

 Những ngày cuối tháng tư năm 1975, trong khi Xuân Lộc bị tấn công, Biên Hòa bị pháo kích; gia đình gồm cha, mẹ Quỳnh và đứa em trai di tản, sau đó định cư tại thành phố Montreal Canada.

Chuyện tình nàng và Tân phút chốc thoáng như mơ mà đã gần ba mươi năm! Một nửa đời người rồi còn gì!!!                                                                                                                                                       

Phi cơ ở độ cao! Quỳnh kéo chăn đắp lên ngực và thì thầm với chính mình:

- Tân ơi! Em phải về gặp anh! Dù thế nào em cũng không thể dối lòng mình được, em yêu anh suốt cuộc đời này.

Người tiếp viên thông báo, phi cơ đã vào địa phận Việt Nam.

 Trước khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, phi cơ đảo đi một vòng lớn, qua khung cửa kính Quỳnh vẫn thấy thửa ruộng, mái tranh lụp sụp, sự nghèo khó làm vòng đai rộng lớn bao quanh thành phố Sài Gòn hoa lệ.

 Qua báo chí, Quỳnh biết rằng hơn bảy mươi lăm phần trăm dân tộc mình là nông dân, suốt đời úp mặt xuống bùn cũng không kiếm đủ miếng ăn cho gia đình! Giàu sang chỉ dành riêng cho thành phần thiểu số có quyền chức trong xã hội! Sự chênh lệch lớn lao giữa nghèo và giàu đó sinh ra sự bất ổn xã hội! Sài Gòn bây giờ là ô nhiễm, xe cộ đủ loại chen chúc luồn lách vô trật tự! Sự công xúc tu sỉ xảy ra ở mọi gốc cây, nhiều lần Quỳnh phải quay mặt đi vì hổ thẹn.

 Ra xa cảng miền Tây, đón xe tốc hành, Quỳnh về Trà Vinh, thành phố Quỳnh đến lần đầu. Quỳnh xuống xe với hai chiếc va li nặng trĩu. Ngơ ngác cố nhớ lời Trang tả; nàng đi lần về phía đầu chợ; thành phố đã lên đèn.

Hàng chục anh xe lôi, xúm quanh hỏi Quỳnh về đâu? Nàng hỏi thăm Tân, cụt chân bán vé số ở đầu phố chợ. Có người nhanh nhẩu trả lời:

- Trung úy Tân! Biệt động Quân bán vé số! Cô lên xe tôi chở đến nhà ổng cho.

- Tân! Biệt Động Quân! Những tiếng thân thương Quỳnh mừng khôn tả.

 Quỳnh đền ơn người chạy xe lôi hậu hĩnh! Trước khi mở cổng bước vào căn nhà ngói ba gian loang lổ gạch vôi nói lên đời sống khó khăn của chủ nhân nó. Quỳnh đưa tay đè lên trái tim, nén xúc động, Quỳnh gõ cửa. Người đàn ông chống nạng bước ra! Nhìn sững nàng! Miệng há hốc kinh ngạc! Đất như sụp dưới chân Quỳnh.

Tân không còn tin ở mắt mình:

- Có phải Quỳnh của anh đây không?

Nàng phóng tới ôm chầm lấy Tân:

- Vâng, em đây! Quỳnh của anh đây.

 Ngoài ngõ, hàng xóm và trẻ em thật đông, tò mò nhìn vào. Người đàn bà tóc bạc như cước, từ nhà sau bước ra lắp bắp hỏi Tân:

- Cô này là ai vậy con?

Tân trả lời mẹ trong xúc động:

- Thưa má! Quỳnh bạn con.

Quỳnh chắp tay lễ phép chào bà. Mẹ Tân bước tới ôm tay Quỳnh vừa mếu máo khóc, vừa nói:

- Thằng Tân gặp lại con! Bây giờ có chết bác cũng vui lòng.

Mẹ Tân vén tay áo lau nước mắt. Tân chống nạng phụ Quỳnh mang mấy va li vào nhà.

 Quỳnh đi tắm, thay đồ mát và bữa cơm đạm bạc được dọn ra gồm: một tô mắm chưng, hai trái cà nâu nướng chan nước mắm tỏi ớt, một dĩa bông so đũa luộc. Ba người cầm đũa, Quỳnh ăn thật ngon miệng! Mấy chục năm ở Canada làm gì có những món này. Tân và mẹ nhìn Quỳnh ăn một cách ái ngại.

Gắp cho Quỳnh bông so đũa luộc, mẹ Tân hỏi Quỳnh:

- Cháu ở đâu về? Lập gia đình được mấy đứa con rồi?

Nàng liếc sang Tân, hình như anh hồi hộp chờ câu trả lời của Quỳnh.

-Thưa Bác, con ở Canada về! Con chưa lập gia đình. Dạ thưa bác, nãy giờ con quên hỏi thăm về vợ con anh Tân.

Tân ngượng ngùng cúi đầu và mẹ Tân cười! Niềm vui trong ánh mắt:

- Bác đã tám mươi tuổi rồi! Thèm cháu nội lắm. Thằng Tân nhiều lần tâm sự với bác, thân nó tật nguyền và suốt đời nói chỉ thương mỗi mình con thôi! Có mấy mối được lắm, nết na có học, nhưng nó đều từ chối. Mỗi chiều bán vé số về tắm rửa cơm nước xong, nó nằm trên võng mắt nhìn lên tấm ảnh nó và con chụp chung chưng trên bàn viết đó! Tay đàn, miệng hát tới khuya. Lần nào bác cũng nghe nó hát bản...Em lây cu...lây cưa...gì đó. Nó hát bản đó hoài sao không chán. Nó nói bản nhạc đó là cuộc đời nó.

- Nghe xong, Quỳnh buông đũa, ngưng ăn! Nắm chặt tay Tân và Quỳnh quay mặt đi để dấu dòng nước mắt tuôn trào. Hồi lâu, nén xúc động, nghẹn ngào Quỳnh hỏi:

- Anh thương em nhiều đến thế sao Tân?

Tân xoa xoa vai Quỳnh giọng như muốn khóc:

- Quỳnh! Em có biết tình yêu và hình bóng em đã nuôi sống cuộc đời tật nguyền của anh.

 Hai người dìu nhau ra ngồi trên băng đá trước hiên nhà. Gió đi lào xào trên tàng cây vú sữa xum xuê trước ngõ, với giọng xúc động, Tân kể lại diễn biến cuộc hành quân sang Lào… và đơn vị Tân bị tràn ngập bởi thiết giáp đối phương, Tân bị đạn đại liên tiện đi mất chân trái! Tân bị bắt làm tù binh, và bị giam cầm 13 năm tại các tỉnh thượng du Bắc Việt, mười ba năm đầy nghiệt ngã, cách biệt với thế giới bên ngoài!

 Năm 1985 họ thả anh, về đây sống với đời buồn tủi tật nguyền, hằng ngày anh đi bán vé số! Hai mẹ con sống cuộc đời cháo rau túng thiếu trong căn nhà kỉ niệm của ba anh, người sĩ quan dù đã chết trong trận Điện Biên Phủ.

Quỳnh cũng kể cho Tân nghe! Từ năm 1972 sau nhiều lần hỏi thăm, kiếm tìm, đơn vị cho biết Tân đã mất tích.

Tháng 4 năm 1975 gia đình nàng di tản và định cư tại Canada; cha mẹ nàng đã qua đời! Nàng làm việc ở một bệnh viện, em trai nàng đỗ bác sĩ đã lập gia đình được hai con.

Riêng Quỳnh vẫn ở vậy. Em nghĩ rằng anh đã chết và em sẽ sống với hình bóng anh suốt cuộc đời này. Bây giờ đang ngồi bên anh em cứ nghĩ mình nằm mơ.

Tân cúi xuống, vén tóc Quỳnh, hai người hôn nhau say đắm! Một nụ hôn của ba mươi năm và dài bằng nửa vòng trái đất.

Buông nhau ra, Quỳnh nũng nịu:

- Em muốn anh đàn và hát cho em nghe.

Tân gật đầu và Quỳnh vào nhà mang đàn ra. Dáng hao gầy, gương mặt nhiều nét kỷ hà học, dạo phiếm và Tân cất tiếng hát! Lời bài hát của một thi sĩ té lầu chết trong một cơn say và Phạm Duy phổ nhạc:
“Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em, đời còn dễ thương...”

 Tân có ngón đàn thật điêu luyện! Giọng hát khàn đục chất ngất nỗi niềm, xoáy tận vào tim Quỳnh; xuôi về thành phố núi của những cô gái má đỏ môi hồng, mái tóc ướt mềm! Thành phố đi năm phút đã về chốn cũ và trong khách sạn Bồng Lai, trên chiếc giường ra trắng muốt, nàng đã trao thân cho Tân trong một đêm mưa kéo dài.

 Trời thật khuya! Trăng thượng tuần sáng vằng vặc. Quỳnh theo Tân vào phòng! Chiếc giường ngủ trải chiếu bông! Quỳnh ngất ngây trong vòng tay Tân! Mùi đàn ông, mùi nếp non rạ mới đã làm Quỳnh phiêu diêu trong hoan lạc tột cùng. Rõ ràng “đêm nay mới thật là đêm - ai đem trăng sáng trải lên vườn chè”.

 Suốt ba tuần lễ ở nhà Tân! Quỳnh và mẹ Tân đi sắm đồ trang trí lại nhà cửa theo sự yêu cầu nhiều lần của Quỳnh. Quỳnh thuê một chiếc xe du lịch đưa mẹ, Tân và Quỳnh ngắm cảnh Ao Bà Ôm, Tân chỉ cho Quỳnh nơi chú Đạt hôn cháu Diễm trong phim Yêu của Chu Tử do tài tử Anh Ngọc và Thanh Lan đóng. Những hàng cổ thụ, rễ nhô cao trên mặt đất! Mặt hồ gió mát! Phong cảnh tuyệt vời. Ba người cũng đi ngắm biển Long Toàn với những đồi cát chập chùng và những bữa ăn cua luộc ngon nhớ đời.

Bên Quỳnh, Tân như trẻ lại! ăn nói hào sảng như ngày nào khoác áo hoa rừng và đội chiếc mũ nâu.

 Khỏi phải nói! Mẹ Tân thương Quỳnh qua cách đối xử phải đạo của nàng! Nhiều lần bà cảm ơn Quỳnh đã mang về đây niềm vui, hạnh phúc cho Tân! Đứa con trai duy nhất và cũng là tài sản của đời bà.

 Riêng Quỳnh, sau nhiều đêm ngỏ lời! Trước khi chấp nhận, Tân hỏi Quỳnh suy nghĩ kỹ chưa khi chọn một người tật nguyền làm chồng.

 Quỳnh chọn căn nhà cũ kỹ! Có giếng nước mát lạnh, tàng cây vú sữa cho bóng mát suốt ngày, làm nơi cư trú suốt đời bên tình yêu nồng nàn của Tân.

 Quỳnh cùng Tân dạo phố! Không một mặc cảm ngại ngùng nào “bên người yêu tật nguyền chai đá”. Trái lại, Quỳnh còn thầm hãnh diện có người chồng đã hy sinh một phần thân thể cho quê hương đất nước.

 Trước khi Quỳnh trở lại Canada, gia đình Tân tổ chức một bữa tiệc, mời một ít bà con và một số hàng xóm cạnh nhà để tuyên bố lễ cưới giữa Tân và Quỳnh. Mọi người đều cảm động trước mối tình nồng thắm, cách chia gần ba mươi năm của hai người. Trong tiệc cưới, mẹ Tân đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy hạnh phúc của con trai mình.

 Ba tháng sau, trên chuyến bay Cathay Pacific Airline, Quỳnh đã thu xếp mọi việc ổn thỏa để trở về sống suốt đời ở Việt Nam bên cạnh Tân - chồng nàng.

Khách cùng chuyến bay ngưỡng mộ nhìn Quỳnh, tay xách túi nhỏ và vai mang một hộp da như đựng nhạc khí kèn đồng.

Trong quầy khám hành lý! Nhân viên hải quan hách dịch hỏi nàng:

- Sao không thấy bà kê khai hộp da bà mang trên vai. Chúng tôi được lệnh khám xét.

Quỳnh mở dây kéo! Mọi người đều ồ!!! lên một tiếng, ngạc nhiên bên trong lót lớp nỉ đỏ! Không có thứ nhạc cụ nào cả mà là một cái chân giả tuyệt đẹp.

- Bà mang chân giả này về cho ai? Nguyên do nào người này bị tật? Viên hải quan gắt gỏng.

Quỳnh trả lời một cách bình tĩnh:

- Nếu ở phi trường nước khác, tôi sẽ từ chối trả lời câu hỏi này. Nhưng ở đây tôi xin trả lời ông: Tôi mang chân giả này về cho chồng tôi! Anh bị thương trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở chiến trường Hạ Lào.

- Sau một lúc bàn thảo! Hải quan đồng ý cho Quỳnh đi. Đẩy xe hành lý bước nhanh một đỗi, Quỳnh còn nghe rõ câu nói hằn học lớn tiếng sau lưng:

- Mẹ nó! Mấy thằng thương binh ngụy bây giờ có giá dữ ha!!!

Quỳnh mỉm cười bước nhanh khi nhìn thấy Tân và mẹ vẫy tay chào nàng ngoài khung của kính bên kia đường./.

Tường Lam

Chuyện thật kể về tấm thẻ bài

của cô bác sĩ Vivian Le

Con gái 5 tuổi lạc qua MỸ năm 75 học ra bác sĩ về Vn chưa bệnh từ thiện, ra Nhatrang tìm lại cha mẹ các em,tình cờ xe hết xăng ngay chỗ mẹ ruột và 2 em đang cải táng mộ cha gần đó..., bảo lãnh qua Mỹ.

Câu chuyện được bắt đầu vào sáng ngày 23-3-1975

Sau khi chồng và con trai bị chết vì đạn pháo kích của Vc đồng thời bị thất lạc đứa con gái trong ngày di tản tại bãi biển Chu Lai, chị Buôn quấn quýt chạy khắp nơi để hỏi thăm về đứa con gái của mình... chị đã được một người chạy nạn cho biết:
"Con bé khoảng 9 hay 10 tuổi mặc cái áo xanh, quần đen, cổ có đeo cái thẻ bài của lính là con chị sao? Nó được một người trên ca-nô nhào xuống nước bơi vào vớt nó đưa lên ca-nô ra tầu lớn rồi. Thật là may mắn cho nó!"...

Lệ, đứa con thất lạc của chị Buôn được đưa lên tầu Hải quân với chiếc thẻ bài đeo toòng teng nơi ngực. Người ta thấy có khắc tên: Lê văn Buôn Số quân: ... Họ hỏi Lệ. Lệ nói đó là tên ba nó, ba Buôn của nó, bị lọt lại với má và ba đứa em tại bãi biển Chu Lai. Mới đầu Lệ sụt sùi khóc nhưng có người đàn bà ngồi gần bảo nó khóc không ích gì. Nó cắn răng nghe lời bà này, làm theo những gì người ta chỉ bảo. Tiếng nổ làm cho nó ù tai nhưng cái sợ làm nó quên cả. Kể từ lúc quả lựu đạn nổ, nó gần như mê đi cho đến khi có người vớt nó đưa lên ca-nô rồi lên tầu.

Người vớt nó lên ca-nô và đưa nó lên tầu, nhận nó là con nuôi là một Thiếu Uý Hải quân mới ra trường. Sau thời gian huấn luyện dài đằng đẵng, tim anh còn đầy ắp tình người dành cho đồng hương và cả nhân loại. Ước mơ của anh là những chuyến hải hành xa, đi đến chân trời góc biển, đi đến những đô thị lớn hoa lệ, nguy nga, ngợp ánh đèn về đêm và nườm nượp xe cộ, người đi bộ trên hè phố ban ngày.

Anh tên Lê trọng Nghĩa, 28 tuổi, quê quán ở miệt Thủ dầu Một, ra trường với hạng cao trong số hơn 60 sinh viên tốt nghiệp trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang và hiện là một sĩ quan ưu tú của Giang đoàn 240 đóng ở miền Trung. Chiếc tầu Nghĩa và đứa con nuôi là Lệ về đến bến Bạch đằng Sàigòn vào tuần đầu tháng 4-1975, đang lúc Sàigòn lên cơn sốt y như miền Trung mấy tuần trước. Nghĩa đưa Lệ đến gửi vợ một người bạn trong trại Sĩ quan bến Bạch đằng, lại gửi tiền và nhờ Xuân Hà, tên vợ người bạn, đi mua sắm quần áo và những thứ cần thiết hàng ngày cho Lệ. Xuân Hà nhìn Nghĩa rồi nhìn Lệ và hỏi nhỏ Nghĩa:
"Con bé xin được ở đâu mà xinh quá vậy? Tốn vài tạ gạo nữa là đã ra dáng tiểu thư rồi. Anh lựa hay lắm."
Nghĩa nghiêm nét mặt bảo Xuân Hà:
"Chị đừng nghĩ vậy. Ba má nó và ba đứa em còn kẹt lại
Chu Lai. Chỉ có mình nó được tôi cứu lên tầu. Tôi nhận nó làm con nuôi."
Xuân Hà tính đùa thêm một câu nhưng thấy mặt Nghĩa lạnh như tiền nên không dám cợt nhả nữa.

Ngày 28-4-1975, Nghĩa lại mang Lệ lên một chiếc tầu Hải Quân HQ thực lớn để chạy sang Guam. Nghĩa con một, cha mẹ Nghĩa đã lớn tuổi muốn sống và chết ở Thủ dầu Một nên không đi mặc dù trong thời gian ở Sàigòn, Nghĩa đã cải trang về thăm và mời ông bà đi.
Sau 5 tháng ở trong trại tạm cư ở Guam, Nghĩa và Lệ được một nhà thờ bảo trợ đi
South Carolina. Từ đây, Nghĩa xin Basic Grant của tiểu bang để vào Đại học học Kỹ sư cơ khí. Ngoài giờ học, Nghĩa đi làm part time cho tiệm Sears ở downtown để lấy tiền chi phí ăn ở cho hai cha con. Nghĩa xin cho Lệ vào học ở trường tiểu học địa phương, có xe bus nhà trường đưa đón mỗi ngày và ăn sáng, ăn trưa miễn phí vì hai cha con Nghĩa chưa có lợi tức. Nghĩa chỉ thêm bài vở cho Lệ mỗi buổi tối sau khi cơm xong. Lệ thông minh nên học rất nhanh. Để giúp ba Nghĩa, nó biết đặt nồi cơm điện, luộc rau, luộc trứng, làm những món giản dị rồi chờ ba Nghĩa về ăn cơm.
Mặc dầu vào ngang thiếu căn bản 4 lớp đầu (học trình Hoa Kỳ), nhưng Lệ đã học xong lớp 5 Việt Nam, Lệ học lại với ba Nghĩa và một cô giáo Mỹ dạy kèm (tutor) tất cả những gì cần thiết chưa được học ở các lớp dưới, nhất là Anh ngữ, vì vậy Lệ tốt nghiệp Trung học lúc mới 17 tuổi với điểm trung bình 4.0, một thành tích vượt mức ngay với học sinh bản xứ.
Nhiều lúc Lệ nhớ ba má, nhớ các em day dứt nhưng nghe ba Nghĩa khuyên, Lệ phải cố quên. Lệ cũng nghĩ và tự nhủ lòng, có khóc, có nhớ ba má và các em cũng không làm được gì, chỉ cản trở việc học. Đã từng ở trong cảnh nghèo của cha mẹ ở Việt Nam, Lệ biết được đi học thế này là một diễm phúc vì vậy Lệ cố gắng và chăm chỉ hết mức. Ba Nghĩa cũng khuyên Lệ, sau này có thể có bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, khi ấy Nghĩa sẽ tìm cách hỏi thăm tìm ra tung tích ba má và các em Lệ. Lệ nghe thế lại tạm yên lòng và hy vọng.

Mùa Thu năm đó, Lệ vào trường Đại học Y khoa South Carolina. Sau 3 năm, Lệ lấy Cử nhân Sinh Vật học với lời khen của Hội đồng Giám Khảo. Lệ chuyển qua học ngành Nhãn Khoa (Opthalmology). Năm 1990, Lệ đậu bằng Bác sĩ Nhãn Khoa hạng tối Ưu với lời ngợi khen của Ban Giám Khảo. Lệ được mời dạy môn Nhãn Khoa cho sinh viên cùng trường. Lệ hỏi ý kiến ba Nghĩa, sau đó Lệ xin khất cho đến khi trở về từ Việt Nam.

Tốt nghiệp xong, Lệ bàn với ba Nghĩa, lúc này đã có vợ và một đứa con trai 2 tuổi, ba Nghĩa đồng ý, Lệ đi mua vé máy bay về Việt Nam tìm cha mẹ và các em. Sau hơn 10 năm bế quan toả cảng cả nước sắp chết đói, lúc này (từ 1985) chế độ bắt buộc phải mở cửa cho kinh tế thị trường nên cũng dễ dàng cho Lệ đi lại.

Lệ và một người bạn thân về đến Chu Lai vào một buổi chiều mùa Hạ năm 1990 sau khi đã lặn lội đi bằng đủ thứ xe từ Sàigòn ra miền Trung. Sau 15 năm, quang cảnh cũ đã thay đổi nhiều. Có những căn nhà mới mọc lên nhưng cũng có nhiều căn trại cũ biến mất. Chỉ có bãi biển, trông vẫn như trước mặc dù có nhiều hàng quán mọc lên bán thức ăn, thức uống cho du khách. Trại Gia binh ngày nào không còn. Lệ muốn được gặp lại những người hàng xóm của ba má Lệ ngày xưa như vợ chồng bác Sáu, vợ chồng chú Đàm, vợ chồng cô Bé

...

để hỏi thăm về cha mẹ và các em nhưng đi quanh quanh làng xóm, Lệ không kiếm ra một người quen cũ.
Lệ đeo cái thẻ bài vào cổ như ngày 23-3-1975 ra bãi biển Chu Lai, nhà nào Lệ cũng vào hỏi thăm và cho con cái họ quà bánh Lệ đem từ Hoa Kỳ về, giơ chiếc thẻ bài cho họ coi và hỏi thăm xem có ai biết ba má và các em Lệ không? Nhưng tuyệt nhiên không ai biết. Vốn đã có định kiến, Lệ xin phép chính quyền sở tại, không quên quà cáp cho họ, để mở phòng mạch khám mắt miễn phí cho mọi người. Một nữ bác sĩ Hoa Kỳ, cô Ruthie O'Brien, bác sĩ gia đình, vốn là bạn thân và cùng ra trường một ngày với Lệ, cùng đi với Lệ về chơi thăm miền Trung Việt Nam, nhân dịp cũng bỏ đồ nghề ra khám bệnh và cho thuốc cùng những lời khuyên hữu ích để phòng ngừa bệnh tật. Các gia đình đến khám mắt và khám tổng quát, nhất là những ông già bà cả đều được hỏi về Trung sĩ Lê văn Buôn, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1, Sư đoàn 2 Bộ binh vào tháng 3 năm 1975 nhưng không một ai biết. Mỗi buổi chiều khi khám bệnh xong, Lệ và Ruthie thường ra bãi biển Chu Lai ngồi ngắm sóng và ngắm hoàng hôn trên biển, nghe những tiếng rì rào của sóng biển chạy vào bờ rồi lại trườn ra xa. Thấy bạn buồn vì không tìm ra gia đình, Ruthie lựa lời khuyên nhủ và hỏi Lệ có còn muốn đến nơi nào khác để kiếm không? Lệ nghĩ chỉ có hai nơi khác ba má Lệ có thể ở là Nha Trang, quê của ba và Trà Vinh, quê của má. Lệ nói cho Ruthie nghe những nơi Lệ hy vọng nhiều nhất, sau đó Ruthie khuyên Lệ nên đi Nha Trang.
Nha Trang không hứa hẹn nhiều cho việc tìm kiếm vì Lệ đã đến đây gần một tuần, đi khắp nơi hỏi nhưng không ai biết cựu Trung sĩ Lê văn Buôn và vợ con.
Lệ thất vọng hoàn toàn, thầm nghĩ chỉ còn một nơi nữa là Trà Vinh. Nếu tại Trà Vinh cũng không có tung tích thì coi như gia đình Lệ đã bị tiêu tán trong hoặc sau ngày
23-3-1975. Nghĩ đến đó, Lệ cảm thấy buồn muốn khóc. Ba má và các em đi hết chỉ để lại mình con thôi sao, thế thì con có sống cũng mang mối u hoài đau khổ ấy suốt đời! Thà con ở lại nhà chia sẻ những đau khổ với ba má và các em rồi chết chung một huyệt cũng là xong một kiếp người. Lệ buồn khôn tả và khóc mỗi đêm về nhưng không dám cho Ruthie biết.

Một buổi sáng, Lệ cùng Ruthie mướn một chiếc xe hơi với tài xế để đi thăm Hòn Chồng, nơi thắng cảnh đẹp có tiếng của Nha Trang. Thật ra Lệ không còn tâm trí đâu ngoạn cảnh vì "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ" nhưng để chìu Ruthie, Lệ cho Ruthie đi nơi này nơi kia chụp hình lưu niệm và dọc đường có thể tìm vào các quán ăn ngon, các khách sạn sang trọng mướn phòng ngủ qua đêm. Lẽ ra trong chuyến đi này, Lệ mang theo vị hôn phu là bác sĩ Vĩnh quang Dũng, chuyên khoa bệnh tiêu hoá, tốt nghiệp trước Lệ 3 năm và hai người quen nhau khi cùng làm việc trong một bệnh viện nhưng Dũng phải đi Á căn Đình dự một Đại Hội Y Khoa toàn cầu về bệnh tiêu hóa, đại diện cho Bộ Y Tế Hoa Kỳ.
Còn vị hôn phu của Ruthie có cha già đang nằm bệnh viện chữa trị bệnh tiểu đường nên anh cũng không thể theo Ruthie đi du lịch Việt Nam được.
Sau khi đã dạo chơi bãi biển hơn hai tiếng đồng hồ, Lệ đề nghị tài xế chở vòng qua con đường phía sau, nơi đây lưa thưa có dăm cái nhà trên bãi cỏ hoang. Phong cảnh quá tiêu sơ và u buồn, không có bóng một đứa trẻ. Lệ và Ruthie bàn với nhau đi xuống cuối con đường rồi trở lại, trở về thành phố Nha Trang.
Mới đi thêm một khoảng ngắn, đột nhiên chiếc xe bốc khói ở máy. Tài xế vội cho xe ngừng lại và kiểm soát máy thấy máy cạn khô không còn một giọt nước. Anh ta hoảng hồn tắt máy và ngơ ngáo đi tìm xung quanh để kiếm nước châm vào máy. Đó đây, ngoài con lộ đắp bằng đất đỏ thì toàn là gò đống và bụi cây mọc lưa thưa, tít tắp xa mới thấy vài mái tranh hiện trên nền trời xanh lơ. Lệ và Ruthie phải ngồi chờ dưới gốc cây cho bớt nắng trong khi bác tài lội bộ đi tìm nước.
Chợt Lệ trông thấy một đám người lố nhố trên một cái gò, cách xa Lệ khoảng 400 mét. Lệ chợt nghĩ hay là họ đào huyệt chôn người chết như hồi còn bé Lệ đã thấy ở
Chu Lai nhưng sao không nghe tiếng khóc cũng không thấy quan tài. Trí tò mò thúc đẩy Lệ vào đó coi xem sao. Lệ cũng có ý nghĩ giúp đỡ công việc họ đang làm, nếu họ quá nghèo, cần đến một, vài chục đô-la của Lệ.
Lệ nói cho Ruthie nghe ý nghĩ của mình, bảo Ruthie ngồi đó chờ mình nhưng Ruthie không chịu, đứng lên cùng đi với Lệ. Hai cô gái cứ tưởng gần và ruộng khô, nào ngờ coi vậy nhưng khoảng cách khá xa và có những chỗ nước ngập mắt cá, hai cô phải tháo giầy cầm trên tay để đi.
Khoảng sáu, bảy người vừa đàn ông, đàn bà, thanh niên, thiếu nữ cắm cúi nhìn vào một cái lỗ huyệt đang đào do 4 thanh niên khoẻ mạnh, người cầm xẻng xúc đất đổ vào mê tre, kẻ bê đất đổ lên bờ, để dần dần hiện ra tấm nắp thiên bằng gỗ đen sì một cái quan tài.
Từ xa lội tới, hai cô gái đã bị những cặp mắt tò mò của đám người trên gò nhìn thấy và theo dõi. Khi hai cô tới gần, tất cả đều ngừng tay nhìn chằm chằm như nhìn một hiện tượng lạ.
Họ quá lạ lùng bởi từ xưa đến nay chưa có người ngoại quốc nào ăn mặc đẹp đẽ thế kia – đám người cho rằng cả hai cô là gái Mỹ, Pháp, Anh, Úc chi đó, lại lội ruộng vào cái gò này để coi cải mả.
Phải, họ đang cải mả. Họ đào cốt người thân chết đã lâu năm, bỏ sang một cái tiểu sành, kiếm chỗ thuận tiện, gần gũi hơn đặt xuống.
Lệ mở lời khi nhìn một người đàn bà lam lũ, già yếu, mặt mày nhăn nheo:
"Chào các bác, các chú, các anh, các chị. Cháu là người Việt sống tại Hoa Kỳ về thăm quê hương. Các bác, các chú đang cải táng cho thân nhân, phải không ạ?"

Nghe cô con gái nói tiếng Việt, cả đám người thật ngạc nhiên. Sao cô gái trông như Mỹ này, chỉ khác mớ tóc đen, lại là người Việt, nói tiếng Việt thạo quá. Họ bỏ xẻng cuốc đứng vây xung quanh hai cô gái. Người đàn bà lớn tuổi trả lời:
"Phải, người ở dưới huyệt là chồng tôi, chết từ năm 1975."
Lệ nghe giọng nói người đàn bà có điều ngờ ngợ nhưng chưa dám tin là mình có thể đúng. Nhân tiện, cứ hỏi thăm xem có ai biết được ba mình không? Lệ chìa tấm thẻ bài đeo trong ngực áo ra cho họ coi, nói:
"Tấm thẻ bài này của ba tôi. Tôi không biết gia đình ông còn sống không và nay ở đâu. Ông tên là Trung sĩ Lê văn Buôn."
Người đàn bà trân trối nhìn Lệ xong ngập ngừng nói:
"Thế này thực không phải. Xin lỗi... Có phải tấm thẻ bài này của lính Việt
Nam Cộng hoà và cô là... Lệ phải không?"
Điều Lệ nghi ngờ đã đúng. Giọng nói người đàn bà và nhìn kỹ từ đầu đến chân, Lệ thấy đúng là má Lệ, không còn sai vào đâu được. Lệ ôm chầm lấy bà khóc rưng rức:
"Má ơi! Con đây, Lệ của má đây. Má còn nhận ra con không?"
Bà Buôn, phải, vì người đàn bà đó chính là vợ goá của Trung sĩ Lê văn Buôn, càng ôm chặt Lệ hơn. Bà rên rỉ:
"Lệ ơi, má đâu có ngờ Trời Phật còn cho gia đình mình ngày hôm nay. Người nằm dưới huyệt kia chính là ba con đó. Quả lựu đạn ngày 23-3 đã giết ba và thằng Chưởng. Còn lại hai đứa đứng kia, thằng Tung, con Bi giờ đã lớn từng đó."
Lệ quay ra ôm hôn đứa em gái và thằng em trai. Chúng cũng xúc động nhưng không xúc động bằng má Lệ và Lệ vì khi xẩy ra biến cố tan nát gia đình, chúng còn quá nhỏ.
Bà Buôn hỏi Lệ:
"Con đeo tấm thẻ bài này 15 năm nay để đi tìm ba má và các em phải không?"
"Dạ, đúng thế má. Con đi tìm ba má và các em vì con đâu biết ba đã hy sinh ngày hôm đó."
Ruthie đứng ngó mấy mẹ con ôm nhau cũng xúc động nhưng trong ánh mắt cô đọc thấy những tia sáng hân hoan vô bờ của bạn và của mẹ của bạn. Chuyến đi hoàn toàn thành công quá sức mong mỏi, cô lẩm bẩm.
Bốn thanh niên lại tiếp tục đào. Họ cậy tấm nắp thiên. Bộ xương người đen sì lõng bõng nước. Ruthie nhìn thấy sợ quá phải đứng tránh ra xa. Cô đã quen với xác chết trong các bệnh viện nhưng không phải là bộ xương đã rữa mục này. Lần đầu tiên Lệ nhìn thấy bộ xương cải táng nhưng Lệ không sợ mà Lệ muốn đứng thật gần để nhìn cho rõ hình hài của người cha đã sinh ra mình.

Khi má Lệ hỏi Lệ vì sao biết mà vào đây. Lệ thuật lại từ đầu tới cuối, vì sao xe phải ngưng lại, bác tài xế phải đi kiếm nước đổ vào máy xe để đi tiếp v.v...
Bà Buôn thắp lên mấy cây nhang và hai ngọn nến trong khi mấy người đàn ông đổ rượu trắng ra cái chậu sành và rửa từng khúc xương cho sạch, lấy giấy bản lau khô xong xếp vào một cái tiểu sành mầu đất nung đỏ quạch. Trong số người lo chuyện cải táng, có chú Năm thợ hồ có nhiều kinh nghiệm. Chú vừa làm vừa chỉ dẫn cho mấy anh thanh niên làm. Chú nói:
"Tôi học nghề cải táng từ năm mới 16 tuổi mà năm nay đã 55, coi như 39 năm trong nghề mà tôi chưa thấy một vụ nào lại linh thiêng như Trung sĩ Buôn đây. Nghe cháu Lệ vừa nói thì cháu đã để tâm tìm ba má cháu nhiều năm nhưng không ra tung tích; đến bữa nay hồn thiêng Trung sĩ dun dủi làm cho chiếc xe hơi đang chạy ngon lành bỗng hết nước ở ngay khúc đường này, xe bốc khói xuýt cháy máy và từ đó cháu Lệ mới có cơ hội lặn lội vào cái gò này vì tính tò mò và cũng vì tính thương người, muốn giúp đỡ người nghèo. Vì thế mà Trời Phật không bỏ cháu."
Bác tài xế đã lặn lội đi xin được một bình nước đổ vào xe. Thay vì hai thanh niên phải khiêng chiếc tiểu sành, giờ này chiếc tiểu sành được bỏ lên xe, mọi người về nghĩa trang gần nơi cư ngụ của gia đình bà Buôn.
Nghe Lệ kể sơ lược từ lúc được ba Nghĩa nuôi vớt lên tầu và được học hành ở Hoa Kỳ, hiện đã là một bác sĩ Nhãn khoa Hoa Kỳ, tiền bạc dư dả, tương lai sáng lạn, bà Buôn quá sung sướng lại khóc. Bà chạnh lòng nghĩ đến người chồng bạc phước đã chẳng được sống thêm để nhìn thấy sự thành công của đứa con gái ông yêu quý nhất đời.
Huyệt mộ cho cái tiểu sành đựng nắm xương của người cha bạc số của bác sĩ Vivian Le đã đào xong, nhỏ và nông nên đào rất nhanh. Lần này nó không nằm trên gò đất chung quanh là sa mạc sỏi đá, cây cỏ hoang vu mà ở trong một nghĩa trang đẹp đẽ bên ngoài thành phố Nha Trang.
Khoảng 4 giờ chiều, mọi việc hoàn tất, bà Buôn, Lệ và hai đứa em của Lệ thắp hương, sụp quỳ, vái lậy, khấn khứa. Lệ cố hết sức giữ cho khỏi quá xúc động nhưng khung ảnh trắng đen của cha Lệ trước mặt lúc nào cũng như đang nhìn Lệ âu yếm làm Lệ tràn nước mắt và cái ngày độc địa 23-3-1975, tại bãi biển Chu Lai, lại hiện rõ mồn một như Lệ đang đứng sát bên cha Lệ, bám vào tay ông cho khỏi sóng đánh ra xa.
Nỗi buồn năm xưa dù chưa quên được nhưng hiện tại vẫn là đáng sống. Mẹ con bà Buôn đành phải khép lại trang sử đẫm máu của gia đình và của xóm giềng, thân thuộc để xây dựng ngày mai tươi sáng hơn.
Lệ đã đưa tiền cho má và em đi chợ mua các thức ăn về làm một bữa cơm đãi đằng chòm xóm và những người thân thuộc, trả công hậu hĩ cho những người cải táng hôm đó. Ai cũng tấm tắc khen sao lại có cái thần giao cách cảm đó để mà đến đúng chỗ, đúng lúc, gặp lại mẹ và em và nhìn được hài cốt của cha. Chuyện thực mà khó tin, xẩy ra như trong một giấc mơ.

Nhờ có nghề nghiệp cao và lợi tức vững vàng lại công dân Mỹ của Lệ, hơn hai năm sau bà Buôn và Tung, Bi đã đoàn tụ với Lệ ở Hoa Kỳ.
Bà Buôn lập một bàn thờ, một bên để tấm ảnh cuối cùng của thằng Chưởng khi nó 3 tuổi, một bên treo tấm thẻ bài, ở giữa bàn thờ là bát hương, có bài vị và khung ảnh đen trắng của Trung sĩ Lê văn Buôn, người Chiến sĩ kiêu dũng VNCH đã hy sinh vì Tổ quốc, người chồng, người cha thân yêu vẫn luôn luôn như đang mỉm cười với vợ và các con!

Đây là câu chuyện thật mà người viết đã lấy từ bài viết "Tấm Thẻ Bài" của Bút Xuân Trần Đình Ngọc đăng trong website: http://www.tinvasong.com/?arti cleId=373001, người viết có cắt xén để bài viết được gọn lại.

Chuyện tù cải tạo nhiều người muốn biết

 

Trần Văn

 

LỜI NÓI ĐẦU CỦA NGƯỜI VIẾT:

Hơn 38 năm đối với đời người quả thật dài. Những vui buồn của ngày tháng cũ trong ký ức theo thời gian dài phải bị xóa nhòa, nhưng, đối với những người chiến sĩ QLVNCH bị gác súng tức tưởi mà kẻ thù chụp cho cái mũ có nhiều “nợ máu với nhân dân và cách mạng”, chúng trả thù và hành hạ thật ác độc, đê hèn, làm sao quên được?
Tháng 6 năm 1976, Ban Quân Quản Sài Gòn ra lệnh gom hết những người gọi là có nhiều nợ máu vào đợt “học tập cải tạo” đầu tiên, sĩ quan cao cấp từ tá đến tướng. Bên chính quyền với những vị công cử đầu não cùng với các vị dân cử trong Quốc Hội, Hội Đồng Tỉnh; các giới chức lãnh đạo các đảng phái chính trị và các tu sĩ có thành tích chống cộng…Sau đó chúng lùa hết quân cán chính VNCH vào rọ. Trại tù cải tạo được thiết lập trên khắp lãnh thổ từ miền cuối Việt Cà Mau đến tận vùng cực bắc Lào Cai, Sơn La..., và cả nước là một nhà tù khổng lồ. Đây quả là một giai đọan lịch sử bi thảm nhất trong hơn 4 ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt Nam.
Chuyện Tù Cải Tạo Nhiều Người Muốn Biết mà tôi đang viết sẽ phát hành vào năm tới, nhằm phơi bày và vạch trần tội ác của chế độc cộng sản Việt Nam đối với quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị “ngã ngựa” kể từ ngày 30.4.1975. Dưới đây, tóm lược bối cảnh các trại tù mà Trần Văn đã từng trải qua: Thành Ông Năm (Hóc Môn), Suối Máu (Biên Hòa), Sơn La (Bắc Việt), Hồng Ca - Yên Bái (Bắc Việt), Tân Lập - Vĩnh Phú (các trại gọi là K - 2 - 1 - 4 - 3 - Bắc Việt), Z30D - Hàm Tân (Bình Tuy - Rừng Lá - Miền Nam VN)).
Nhân Ngày Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tổ chức ở Dallas – Texas từ 3 đến 5 tháng 10 năm 2008. Cá nhân tôi và trên 4 - 5000 người ở khắp nơi Hoa Kỳ & Canada hội tụ vê đây cùng tham dự 3 ngày đại hội do Hội Gia Đình Cựu Tù Nhân Chính Trị của bà Khúc Minh Thơ tổ chức. Đây là đại hội cựu tù nhân quy tụ đông đảo nhất cựu tù ở hải ngoại, đánh dấu sự thành công to lớn dù có người hô hào chống đối tẩy chay. 
Xin mời quý độc giả đọc và suy gẫm, thế hệ chúng tôi phải làm gì để quên quá khứ bi thảm nhất trong cuộc đời của mình…?

 

-------------

 


NHỮNG NGÀY ĐẦU VÀO TÙ
TRƯỜNG TRUNG HỌC PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ


Theo thông báo của kẻ cưỡng chiếm miền Nam từ ngày 30.4.75, theo lời cộng sản nói, những thành phần "có nhiều nợ máu" phải trình diện 3 ngày 13, 14, 15 tháng 6 năm 1975 (tôi có thể nhớ sai ngày dương lịch), nhưng, chắc chắn là trong 3 ngày trình diện đó có ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch năm Ất Mão, vợ chồng chúng tôi trình diện vào buổi chiều ngày này. 
Cư ngụ ở quận 8 nên chúng tôi trình diện một lúc với các anh em khác cùng cấp bậc Thiếu tá ở các quận 6, 7 (hình như có thêm quận 9 mới thành lập không lâu ở bên kia sông Sài Gòn - Thủ Thiêm) tại trường Trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký ở đại lộ Cộng Hòa (VC gọi trường này là Lê Hồng Phong). Còn những qúy vị khác tùy theo cấp chức trình diện ở các địa điểm khác, hầu hết là các trường học. Thông cáo của kẻ cưỡng chiếm miền Nam nói rõ là chúng tôi phải mang theo tư trang (đồ dùng cả nhân) và đóng đủ tiền ăn 1 tháng, khoảng trên 13 ngàn mấy trăm (bằng 1/3 lương của một Thiếu tá. Sau đó, trình diện đi tù đợt 2: sĩ quan từ Đại úy trở xuống đóng tiền ăn 10 ngày…).

Sĩ quan cấp Thiếu tá trình diện ở trường Trung học Pétrus Ký ít hơn các nơi khác, trên dưới 100 người, vì các quận 6,7,8… nằm ở ven đô - Thủ Đô Sài Gòn. Người nữ quân nhân duy nhất tại điểm tập trung này, Thiếu tá Trần Thị Bích Nga, Chỉ Huy Trưởng Trường Xã Hội Quân Đội (trường nằm trong Trại Lê Văn Duyệt của Biệt Khu Thủ Đô). Thật đúng là hoa lạc giữa rừng gươm tua tủa của hai phía ta và địch. 
Ngày đầu tiên trình diện, chúng tôi được “cách mạng” cho thưởng thức cách trị bệnh thần sầu quỷ khốc, nằm dài trên ghế học trò, được nhỏ nước tỏi tươi nồng nặc vào hai lỗ mũi. Ngày sau, truớc khi có “lệnh hành quân” chuyển đến trại tù chính , chúng tôi được nhà hàng sang trọng Ngọc Lan Đình ở Chợ Lớn đưa bàn ghế tới, cứ 10 người một bàn như “nhập đại tiệc”, có đến 7 món ăn mà chúng ta thường gặp trong các tiệc cưới… Khi nhân viên nhà hàng thân quen Ngọc Lan Đình đến “thết đải”, tự dưng tôi chảy nước mắt vì tháng 2 năm 1962, khi tôi được các giáo sư và nhà trường Phước Kiến (266 Đại lộ Khổng Tử, sau đổi tên là trường Phước Đức.Vụ Tết Mậu Thân, trực thăng xạ kích lầm nơi này làm chết và bị thương nhiều sĩ quan cấp tá) tổ chức một bữa tiệc linh đình để tiển đưa tôi nhập ngũ khoá 13 Thủ Đức tại nhà hàng Ngọc Lan Đình. Lúc bấy giờ tôi là Giám học trường trung học này [kể cả học sinh trung tiểu học có (3000 hay 5000 em?), học 2 thứ tiếng Việt và Tàu mà tôi làm Giám học đặc trách về các môn học Việt ngữ, Tiến sĩ Tăng Kim Đông làm Hiệu trưởng, sau TS Đông làm Tổng Trưởng Giáo dục thời Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc]. Tôi được TS Tăng Kim Đông mời phát biểu lời từ giã, sau vài lời cám ơn giáo sư và nhà trường, tôi sực nhớ đến 4 câu thơ xưa của Tàu và lên giọng to:

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Tuý ngọa sa trường quân mạc vấn
Cổ lai chinh chiến kỷ nhơn hồi.


Tự nhiên tôi chảy nước mắt và khi đó có một giáo sư người Hoa rất qúy mến tôi, anh cảm kích đọc lại bài thơ này bằng tiếng Hoa (Quan Thoại), cả thực khách đến mấy trăm người dự tiệc như lắng đọng, cảm kích chia xẻ với tôi “cổ lai chinh chiến kỷ nhơn hồi”. Đó cũng là dấu ấn khó quên trong đời đi dạy học của tôi từ tiểu học đến trung học. Sau hơn 13 năm đi lính, nay cũng chính nhà hàng Ngọc Lan Đình đãi tiển chúng tôi vào một ngày mai mờ mịt…nên tôi xúc động thật sự. Bài thơ tứ tuyệt ấy lại đến với tôi và câu cuối cổ lai chinh chiến kỷ nhơn hồi, 13 năm trước cho đến ngày vào tù, tôi vẫn sống và thăng quan tiến chức. Tôi như thầy bói suy luận, biết đâu câu thơ này sẽ vận vào cuộc đời ở tù của tôi từ đây…

Trình diện “học tập cải tạo”, một danh xưng bịp của bọn CSBV mà chúng tôi tự ý đưa thân nạp mạng cho loài quỷ dữ, đúng ngày Tết Đoan Ngọ, mồng 5 tháng 5 năm Ất Mão (1975). 
Hai vợ chồng đèo trên 1 chiếc xe đạp, người tài xế trung thành của bà xã tôi, từ Hóc Môn đạp xe xuống để tiển đưa. Khi chúng tôi mang ba lô vào cổng trường Pétrus Ký, chú Nhuận tên người tài xế thân thương trung thành đó, một tay lái xe, một tay cố kềm đưa chiếc xe đạp thứ hai về nhà. Chúng tôi ở khu lao động, dốc cẫu Chữ Y, đường Hưng Phú - đường đi đến lò heo Chánh Hưng,. Bốn đứa con nhỏ của chúng tôi, từ 3 đến 9 tuổi, được cha mẹ chúng để lại chiếc xe đạp làm phương tiện và là một tài sản sau cuộc đổi đời này.
Viết đến đây, ký ức của tôi bỗng nhiên như thấy cảnh tượng hoang mang, lo sợ, giao động của hơn 38 năm trước như hiện rõ. 
Khi Thủ Đô Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, thời mạt vận của chánh thể VNCH đã ập đến nhanh quá. Nỗi nhục nhã ê chề của những người lính từng cầm súng chống quân xâm lược cộng sản Bắc Việt, nay đến thời điểm lâm vào cảnh cá chậu chim lồng. Tất cả chiến sĩ anh hùng của QLVNCH phải buông súng và sống trong cảnh phập phồng. Chúng tôi chờ đợi kẻ thù công bố chính sách đối xử với tù hàng binh mà CSBV rêu rao ra rả hàng ngày trên các hệ thống truyền thông suốt 2 tháng 5 và 6.1975. Sự phập phồng, lo âu như cảnh tượng quân Khơ Me đỏ sau những ngày tiến chiếm Thủ Đô Pnom Penh (Nam Vang) nhốt và giết sạch kẻ thù của chúng. Ý nghĩ này đã xâm nhập vào tâm tư tình cảm của mọi người, một tương lai mờ mịt u buồn, thê lương tràn ngập trong suy nghĩ của từng người từng gia đình mà gia đình chúng tôi cả hai vợ chồng đều là lính, bốn đứa con nhỏ dại sẽ nương tựa vào đâu để sống?.

THÀNH ÔNG NĂM – LIÊN ĐOÀN 5 CÔNG BINH KIẾN TẠO

Một trăm thiếu tá trình diện ở trường Pétrus Ký, khi chuyển đến thành Ông Năm ở Hóc Môn (bản doanh của Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo) được chia thành 2 đội 34 và 35. Tôi ở đội 34, đội 35 có 5 Y sĩ Thiếu tá. Bà Thiếu tá Bích Nga nhập cùng với quý chị cấp tá khác ở đội nữ, cách đội 34, 35 chỉ một con đường và gần sát hàng rào kẽm gai. Hàng ngày, chúng tôi có thể trông thấy nhau dùng ánh mắt chia xẻ sự lo âu sâu xa về tương lai của 4 đứa con nhỏ dại…
Những ngày đầu, nhiều chuyện quan trọng đã xảy ra tại lán của đội 34 và 35 ở trại tù Thành Ông Năm – Hóc Môn:
Chuyện khó tin, nhưng có thật, một tên cán bộ y tá, mặt rỗ khá rõ đến lán đội 34 và 35, tập hợp 5 ông thiếu tá bác sĩ Quân Y, dẫn ra khỏi lán bảo đứng nghiêm, 5 ông là bậc thầy của chúng, nghe tên cán ngố này giảng về vệ sinh phòng bệnh… Hắn dẫn 5 ông bác sĩ tội nghiệp của chúng ta phải đi xem “thanh sát” các đường mương, nhà cầu, cách làm sạch các chỗ này. Chưa hết cán ngố còn chỉ bảo cách chửa bệnh nữa cơ làm 5 ông bác sĩ phe ta cứ ngẫng mặt mà nhìn chịu trận, nín thở qua sông. Về lán, anh bác sĩ Tôn Thất Thận (lớn tuổi nhất trong 5 ông BS) nằm gần tôi, kể lại cho chúng tôi nghe mà cùng nhau cười ngất.
Chuyện mà tôi cũng khó quên, anh Hoàng Xuân Định (hiện ở San Jose), Thiếu tá Quân Cụ, anh em thúc bá với Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, nguyên Tư Lệnh QĐ1 & QK1, đứng ra nhận lãnh chức Trưởng Ban Văn Nghệ của trại tù Thành Ông Năm (Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo do Đại tá Dương Công Liêm làm Liên Đoàn Trưởng). Không biết ai giới thiệu với anh Định, chọn tôi vào ban văn nghệ, xung vào thành phần đóng kịch vì hát xướng, giọng vịt đực của tôi bù trất. Sở dĩ, tôi chấp nhận sự chọn lựa này vì hoàn cảnh bi đát của tôi, vợ chồng đều bị đi tù, ở gần nhau mà chẳng nói được lời nào với nhau. Tôi luôn bị ám ảnh tình cảnh 4 đứa con nhỏ dại làm sao mà sống với bà mẹ vợ già cả và thường bị nhiều thứ bệnh. Hơn nữa, trước khi đi tù, có tin, nhà đang ở của gia đình sẽ có một tiểu đội bộ đội CSBV “xin” được đến đóng chốt, làm sao mẹ vợ của tôi từ chối, các con chúng tôi sẽ chịu cảnh ở chật chội, mất tự do. Tôi cần phải làm cái gì để tạm quên sự lo âu dằn vặt đang ăn sâu vào tâm trí, tôi vào đội văn nghệ để giết thì giờ.
Suýt chút nữa, ban văn nghệ của anh Hoàng Xuân Định được cách mạng “chiếu cố” cho vào cùm. Với vỡ hài kịch mà anh Định viết nói về những ngô nghê, ngu dốt của đám khỉ từ rừng mới về Sài Gòn hoa lệ làm cuộc đổi đời, dân chúng từ sung túc xuống bần cùng. Dù anh Định viết rất khéo, nhưng đến buổi phúc khảo, có người trong phe ta làm ăng-ten lập công (nghe anh em kể lại) phân tích tỉ mỉ cái ý nghĩa của vỡ hài kịch “trình” với cán bộ “răng đen mã tấu” ngu dốt “đì” chúng tôi. Nhưng, lúc đó cán bộ cộng sản còn “nới tay” vì mới chiếm Sài Gòn, lòng dân còn nhiều hoang mang và người “tù cải tạo” vừa đóng tiền nhập trại tù chưa lâu nên toán văn nghệ chúng tôi thoát hiểm “trong đường tơ kẽ tóc” chỉ bị cảnh cáo dằn mặt và đuổi về đội.
Chính đội 35 “nổi tiếng” vì có hai chiến sĩ can đảm anh hùng nhất của chúng ta lúc bấy giờ. Ai bị nhốt ở Thành Ông Năm thời điểm đó đều nghe danh 2 Thiếu tá của QLVNCH là anh Quách Hồng Quang, cư ngụ ở vùng cầu Nhị Thiên Đường, Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Động Quân ( tôi không nhớ rõ: TĐ 42 hay TĐ 44, có tên là Cọp Xám hay Cọp Ba Đầu Rằn, 2 tiểu đoàn vang danh anh dũng của vùng đồng bằng sông Cửu Long-V4CT, cộng quân khiếp sợ). Người thứ hai là Thiếu tá Phạm Hữu Thịnh, đơn vi cuối thuộc Ban Liên Hợp 4 Bên ở Sài Gòn, anh gốc là An Ninh Quân Đội, cư ngụ ở Dạ Nam Cầu Chữ Y. Cả hai chiến sĩ anh hùng của chúng ta đã can đảm “trốn trại” đầu tiên, tìm đường vượt thoát khỏi cảnh tù đày nhục nhã vào một đêm có gần nửa vành trăng trên bầu trời. Đây là vụ trốn trại đầu tiên khi CSBV lùa quân cán chính VNCH vào rọ tù của chúng, có thể nói là vô tiền khoáng hậu mà tôi chứng kiến.
Tôi chơi rất thân với hai anh Quang, Thịnh, vốn tôi quen biết anh Quang từ miền Tây, lúc ấy tôi là sĩ quan báo chí của QĐ4 từng theo ông Tướng Tư Lệnh QĐ4 đến thăm viếng đơn vị khi anh Quang còn là Trung đội trưởng. Anh Thịnh ở phía bên kia cầu Chữ Y, gia đình tôi ở phía bên này cầu Chữ Y, cả hai anh đều nhỏ hơn tôi 5-6 tuổi và tốt nghiệp trường Sĩ Quan Thủ Đức sau tôi nhiều khóa. Hai anh Thiếu tá trẻ này xem tôi là niên trưởng, năm 1975, tôi đã qua tuổi 40. 
Trước khi thực hiện chuyện phi thường, liều lĩnh, anh Quang bị đau liên tiếp nhiều ngày, tôi có tặng nhiều viên thuốc cảm và trị sốt rét mà anh Quang cần. Còn anh Thịnh, hàng ngày mải mê tập thể dục, anh Thịnh còn tự chế một cái tạ để tập, hai tay của anh cơ bắp nổi lên cuồn cuộn. Một lần, tôi hỏi, anh Thịnh nói tôi tập tạ nhằm luyện cho thật khỏe 2 tay để có ngày sử dụng và ngày ấy là ngày N, giờ G, giờ định mạng của cả hai anh Quang và Thịnh?.
Khoảng từ 12 giờ khuya đến 2 giờ sáng của một đêm có mưa lất phất, trên nền trời và cảnh vật, ánh trăng sáng lờ mờ, hai anh Thịnh và Quang đi ra hướng cầu tiêu ở gần hàng rào kẽm gai, chọn thời điểm thích hợp này thực hiện cuộc vượt thoát. Nhiều tiếng súng nổ vang trong đêm khuya vắng lặng và tiếng kẻng báo động vang dội khắp nơi xa gần, đánh thức mọi người. Tôi choàng ngồi dậy bước ra cửa coi xem có chuyện gì xảy ra, lính tráng đơn vị canh gác trại tù này, rầm rập chạy với súng cầm tay la hét om sòm, bảo phải tắt đèn và mọi người ở trong lán không được đi ra ngoài…
Sáng hôm sau, cán bộ quản giáo cho biết có 2 anh trốn trại thuộc đội 35, một anh bị bắn chết tại vòng rào trại, một anh bị thương và bị bắt đang nằm ở y xá. Trong những ngày kế tiếp, chuyện trốn trại của 2 anh Quang, Thịnh đã được sáng rõ thêm. Khi quản giáo hỏi đội 34 và 35 có anh nào đem thức ăn cho anh Thịnh đang bị thương, không ai lên tiếng. Tôi tình nguyện mang thức ăn chánh thức của trại đến tiếp tế cho anh Phạm Hữu Thịnh. Sau khi mỗ lấy viên đạn còn ghim trong người ra, nay hồi tĩnh, anh Thịnh lại bị nhốt trong 1 connex, để gần chòi gác, còn bi thảm hơn, ngày thì nóng như thiêu như đốt, đêm khuya lạnh lẽo đến tận xương tủy. Mỗi lần đưa thức ăn đến anh Thịnh, trong đầu, tôi xếp sẵn những câu hỏi, phải thật nhanh và ngắn gọn vì lính gác trên chòi canh lúc nào cũng nhìn theo dõi tôi khi mang thức ăn đến connex. Nhờ vậy, tôi biết được khá nhiều về gia cảnh Thịnh, anh còn bà mẹ già, vợ anh gốc người Hoa. Anh Thịnh còn cho biết sở dĩ anh bị bắn trọng thương vì anh quay lại cứu bạn mình, anh Quang, quần áo đang bị vướng dây kẽm gai mà anh gỡ ra còn nhùng nhằng. Lính gác trên chòi canh phát hiện bắn anh Quang nhiều phát đạn, anh bị thương và nằm dán chặt vào hàng rào. Trong khi anh Thịnh đã chạy đến cây mít (chúng tôi thường thấy các chị ở Sài Gòn lên kiếm thăm chồng? đứng lấp ló ở khu cây mít này), cách hàng rào trại chừng trăm mét. Vừa tới hàng rào dây kẽm gai, anh Thịnh nghe tiếng súng nổ liên hồi vội quay lưng chạy và một viên đạn cấm vào lưng anh, té qụy. Theo lời anh Thịnh kể vắn tắt, anh Quang chỉ bị thương còn sống và cái áo của anh còn dính với mấy móc kẽm gai, đám cán độ trại đến nả bồi thêm vài tràng đạn nữa, kết liễu đời oanh liệt của một chiến sĩ BĐQ ưu tú can trường QLVNCH, Quách Hồng Quang, lúc nào 2 chữ sát cộng cũng đến với binh chủng anh dũng này. 
Nếu gia đình chị Thịnh may mắn được sang định cư ở Hoa Kỳ, xin liên lạc, tôi kể lại những ngày cuối cùng của anh Thịnh từ Thành Ông Năm ở Hóc Môn cho đến trước 1 ngày anh Thịnh bị xử bắn tại trại Suối Máu - Biên Hòa mà tôi “làm gan” trò chuyện với anh đang ngồi hớt tóc. Anh Thịnh linh cảm sẽ khó sống vì đám cán bộ chấp cung thường tỏ vẽ muốn giết anh để dằn mặt đám tù còn lại. Anh Thịnh còn nhân mạnh với tôi, CSBV tàn ác lắm, chúng muốn giết anh, khi mỗ lấy đạn không có thuốc tê, thuốc mê gì cả. Anh đau đớn quá chết ngất không còn biết gì nữa, chúng muốn làm gì thì làm, may mà anh còn sống đến ngày bị xử bắn.
Thành Ông Năm ở quận Hóc Môn, trại tù đầu tiên đã nhốt chúng tôi, nhưng trại này chỉ là trại trung chuyển, sau mấy tháng lại chuyển tất cả bò tứ, bò ngũ (thiếu tá, trung tá) về Suối Máu. Đây là doanh trại của Trung tâm giam giữ tù phiến cộng của Quân Khu 3 để trao trả với phía bên kia. 
Cũng chính trại tù Thành Ông Năm, sau ngày ra tù, một bác sĩ Quân Y/QLVNCH, Y sĩ thiếu tá Trần Đông A, đã làm cho nhà cầm quyền cộng sản khiếp phục vì tài mổ 1 cặp song sinh dính lại mà nhiều nước, lúc bây giờ, thập niên 80 không dám mỗ tách ra. BS Trần Đông A nhờ đào tạo dưới chánh thể VNCH đã tiến hành ca mỗ thành công và đến nay BS Trần Đông A vẫn là một trong những bác sĩ giỏi và nổi tiếng nhất của Việt Nam.

TRẠI TÙ SUỐI MÁU

Từ Thành Ông Năm ở Hóc Môn chuyển về Suối Máu, con đường dài 40 -50 cây số, với đoàn xe quân sự có hộ tống nghiêm chỉnh, theo lẽ di chuyển một tiếng hay tối đa 2 tiếng đồng hồ là đến nơi rồi. Đàng này, chúng tôi phải “khẩn trương” tập hợp hành quân từ 6-7 giờ tối mãi đến hơn 7 giờ sáng hôm sau mới trại Suối Máu – Biên Hòa. Mỗi lần di chuyển là mỗi lần chúng tôi bị ”bầm vập” thể xác và tinh thần. Chúng dồn nén đám tù này như con vật, một chiếc xe tải Molotova nhét cả 1 đội 50 người cùng với đồ đoàng lỉnh kỉnh, chen chúc ngồi bó rọ, dẫm trên chân trên người nhau. Các xe đều bỏ bạt phủ kín, không đủ không khí để thở, chỉ một cái đánh rấm của một anh nào đó kể như mọi người lãnh đủ cái mùi khó chịu không ai thích. 
Lần chuyển trại đầu tiên, từ trường Trung học Pétrus Ký chuyển đến Thành Ông Năm ở Hóc Môn, chúng tôi đã lãnh đủ cái cơ cực khổ sở của cái vụ chuyển trại bi thảm này. Được lệnh hành quân khẩn trương, từ 9 giờ tối đã có tiếng tu-hít (còi) thổi gọi tập họp mọi người. Từ trường Pétrus Ký đến Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo, mười mấy hai chục cây số. Cái dễ sợ nhất là mỗi đội chúng tôi bị nhốt trong một chiếc xe bít bùng, tiểu tiện phải đi trong quần vì từ 9 giờ tối đã lên xe, hành quân kiểu gì không biết của đám khỉ học làm người, mãi đến 6 giờ sáng mới tới Thành Ông Năm ở Hóc Môn.
Tại Suối Máu, tưởng tôi đã “bỏ mạng sa trường” vì cái bệnh kiết lỵ. 
Xin nhắc lại, tôi từ giã ông Yamoto “đi cải tạo”, khoảng giữa tháng 5.1975, ông là Trưởng văn phòng nhật báo Asahi (Asahi Shimbun) tại Sài Gòn, một tờ báo lớn của người Nhật, có số phát hành các ấn bản sáng chiều và chữ Anh, trên dưới 10 triệu số mỗi ngày. Tôi đã cộng tác với ông Yamoto trên 3 năm, qua tài liệu, ông đã hiểu hơn tôi về chế độ “tù cải tạo” của cộng sản, ông biếu tôi vài trăm đô và đặc biệt tặng 2 “túi cứu thương” để tôi dấn thân vào cõi chết mà ông chỉ nói úp mở. Lúc bấy giờ, thời chiến cực kỳ khốc liệt, mỗi ký giả ngoại quốc ở Sài Gòn, gọi là ký giả chiến trường, đều kè kè bên mình một túi cứu thương, gồm đủ các thứ thuốc, trong đó có nhiều thuốc trị bệnh sốt rét, kiết lỵ, tiêu chảy…May mắn cho tôi, ông Yamoto và người phụ tá của ông có 2 túi cứu thương, ông tặng hết. Nhờ có nhiều thuốc nên ở trong trại tù, nhiều bác sĩ phe ta khám bệnh cho anh em, biết tôi có thuốc tốt, phụ nhĩ với bệnh nhân, đến tìm anh Ngà xin thuốc, tôi trở thành dược sĩ bất đắc dĩ mà chẳng cần học trường Dược ngày nào.
Khi tôi bị bệnh kiết lỵ ngặt nghèo, từ cầu lê lết về đến lán, tôi bước lên thềm không nổi phải bò mới vào được chỗ nằm và vận dụng hết sức lực còn lại mở túí balô lấy thuốc trụ sinh trị kiết lỵ uống 2 lần từ tối đến khuya, tôi không đi cầu nữa.
Tại trại Suối Máu, tôi gặp anh Phạm Đăng Có, Thiếu tá Quân Cảnh, Chỉ huy trưởng trại giam tù phiến cộng này. Anh Có là em ruột của Đại tá Phạm Đăng Tấn (đã từ trần cách nay chừng 8 năm ở Virginia, vợ chồng tôi có đến phúng viếng, tiển đưa), nguyên là Tham Mưu Trưởng QĐ4 & V4CT thời Trung Tướng Đặng Văn Quang làm Tư Lệnh, đó là hai ông sếp lớn của tôi. Người anh kế của anh Có là Trung tá An Ninh Quân Đội Phạm Đăng Năng, có vợ là bạn học với tôi ở Châu Đốc (anh Năng hiện còn ở VN). Anh Có rù rì với tôi, tụi VC này ác quá, hồi tôi làm sếp ở đây, đám cán binh của chúng được nằm giường sắt 2 tầng đàng hoàng, nay chúng cho bọn mình ăn chay nằm đất.

Tại trại Suối Máu, trước ngày lên đường đi ra miền Bắc “xã hội chủ nghĩa” chúng tôi gồm bò tứ và bò ngũ, được học tập chính sách “khoan hồng nhân đạo” 12 điểm của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để thông suốt mà hồ hởi phấn khởi ra miền Bắc nghèo mạt rệp. Cũng chính lúc này, một tòa án quân sự của quân khu 7 VC được thiết đặt, gần cổng ra vào trại. Cán bộ trại bắt loa gọi anh em “trại viên” lắng nghe theo dõi buổi xử án 2 người trốn trại, có trực tiếp truyền thanh. Mỗi đội phải cắt cử 2 người (thường là đội trưởng và đội phó) đi tham dự phiên xử anh Phạm Hữu Thịnh và một anh Thiếu tá nữa là Nguyễn Văn Đương thuộc ngành Tình Báo Quân Đội (tôi vừa mới bìết tên anh Thiếu tá này do một chiến hữu ở Úc Châu gọi điện thoại cho biết) cũng trốn trại tại Suối Máu. Anh này trốn được ra khỏi trại Suối Máu, đi xe đò bị chận bắt ở một chốt kiểm soát nào đó, chưa về tới Sài Gòn. Chúng tôi đang ngồi nghe ngóng, phiên xử khai mạc, nghe rất rõ, khi gọi tên anh Thiếu tá Đương ra xử. Sau khi luận tội và kêu án tử hình, vẫn trong tư thế bị còng 2 tay, anh chiến sĩ anh hùng của chúng ta hô lớn đả đảo cộng sản trước tòa, anh vừa mới nói đả đảo tiếp theo chắc là đả đảo hồ chí minh. Hai tên bộ đội dùng tay bịt miệng và sau đó anh bị nhét giẻ vào miệng, kéo sền sệt ra khỏi phòng. Chừng 2 phút sau nghe tiếng súng AK nổ một loạt mà anh em có tham dự chứng kiến từ đầu. Trong lúc đó, bất ngờ, dù còn nắng trời đổ mưa như sụt sùi khóc cho một chiến sĩ anh hùng của QLVNCH bị giết dã man trước họng súng của quân xâm lược. Được biết, đám cán binh VC không lôi anh chiến sĩ anh hùng này đến pháp trường cát đã thiết đặt trước mà chúng bắn anh khi ra khỏi nơi xét xử trước một ụ đất . Buổi chiều, bọn xét xử, rút kinh nghiệm buổi sáng, khi chúng luận tội, anh Phạm Hữu Thịnh bị nhét giẽ đầy miệng không cho nói lời nào và đưa đến pháp trường cát kết liễu đời anh, tội nghiệp anh Thịnh bị hành hạ đày đọa mấy tháng trong connex, thân hình tiều tuỵ, da bọc xương tái méc, nhưng sắc mặt anh vẫn bình thản, lạnh lùng và vui vẻ khi tôi hỏi chuyện.
Cộng quân đã đem xử bắn 2 anh em của chúng ta để dằn mặt đám tù còn lại, trốn trại bắt được là xử bắn, không có khoan hồng nhân đạo gì ráo trọi.

CHUYẾN TÀU THỦY RA BẮC


Qua 2 lần chuyển trại trước đây, nay lại chuyển trại lần nữa vào đêm 10 tháng 6 năm 1976, nghĩa là sau 1 năm chúng tôi nằm tù cộng sản ở miền Nam. Nay lại ra miền Bắc xã hội chủ nghĩa nghèo khổ mạt rệp, cũng tập họp từ 7 giờ tối, bị kiểm tra "tư trang", chúng tịch thu vô số đồ dùng cũng như thuốc men của anh em chúng tôi. Khoảng 10 giờ tối, chúng tôi được dồn lên xe chật ních cũng như 2 lần chuyển trại trước, mãi đến 6 giờ sáng mới bị dẫn xuống tàu nhỏ, cũ kỹ bẩn thỉu, loại tàu chở vật dụng, heo, trâu, bò…đậu tại tân cảng Sài Gòn, gần cầu Sài Gòn, trên xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa. 
Mỗi chiếc tàu loại nhỏ đó chỉ chở 5-7 chục người là nhiều, đàng này chúng dồn hình như xấp xỉ 3 trăm người vì chúng tôi chỉ nhìn thấy đầu đen và người nào người nấy, ở trần trùn trục, mặc vỏn vẹn chiếc quần đùi mà ngồi chen chúc chịu trận vì không có đủ chỗ nằm. Tôi mạo hiểm lấy ra một cái võng tự chế khi còn ở Hóc Môn, leo lên thành tàu cao hơn 2 mét mới có chỗ buộc dây 2 đầu căng võng nằm, còn ở sàn tàu, không ai có thể đặt lưng nằm được. Bắt chước làm theo tôi có đến cả chục người nữa mà đám bộ đội áp tải không nói năng gì.
Cái khổ nhất trần gian lúc bấy giờ là đi tiểu tiện trong 2 cái thùng thiếc miệng tròn dành cho mấy trăm người. Mỗi ngày, từ trên boong tàu mở nắp ra, thòng dây xuống để chúng tôi buộc vào thùng phân và nước tiểu lần lượt kéo lên. Vì ở trên cao, cách hơn 5-6 mét, cái thùng lại nặng, 2 tên bộ độ ì ạch kéo lên khơi khơi, làm chiếc thùng đầy lượn đảo qua lại bắn nước dơ tung toé, rơi xuống trúng người nào người đó chỉ biết kêu trời, lãnh đủ, nước không đủ uống làm sao mà có nước rữa nên phải “khắc phục”. Mỗi lần xếp hàng chờ “lấy tài” để tống hai cái của nợ, mất vài tiếng như chơi. Rủi hơn nữa tới phiên mình được phép trút cái nợ đời ra là lúc chiếc thùng đầy ắp, còn chỗ đâu mà chứa, đành gọi khan cổ xin kéo thùng lên. Chờ “bề trên” trông xuống hỏi lý do gì mà kêu cứu, họ mới thòng dây xuống kéo thùng lên, đồ phế thải dơ bẩn đó phải đổ xuống biển, còn rữa nữa mới thòng thùng xuống lại, thêm một lần nữa, thùng mới rữa lại văng nước tung toé. Anh em có dịp la lên chí choé, nhưng nước văng lần này tương đối “ thơm tho” hơn lần trước từ dưới kéo lên. Trong 4 ngày ở dưới hầm tàu này, có nhiều lần vì đợi tới phiên lâu quá, tôi lại không đi cầu được, đành rút lui để cho người khác làm “nhiệm vụ xã hội chủ nghĩa”. 
Sau 4 ngày ngất ngư con tàu đi, nhiều người bị say sóng ói mữa tới mật xanh, may cho tôi, thể trạng tốt không bị ói mữa nên đở tiều tụy hơn nhiều anh em khác. Cũng vì cái còn khỏe đó mà tôi lãnh cái búa tạ, khi tàu cặp bến Vĩnh Linh - Đồng Hới, tôi được một thằng bạn mắc dịch lớn giọng đề cử tôi làm Đội trưởng để “quản lý” anh em trên toa xe lửa khi có 1 tên bộ đội bảo anh em đề cử đội trưởng.

CHUYẾN TÀU HỎA ĐỊNH MỆNH TRÊN ĐẤT BẮC

Trời đã bắt đầu tối, từng chiếc tàu cặp bến cầu, đổ người lên đông nghẹt, xếp hàng đôi “2 hàng dọc, đàng trước thẳng” lần lượt tiến bước có 4-5 con chó trận vừa sủa vừa dẫn đầu. Đèn dầu, đuốc được các người dân nghèo khổ cầm đứng 2 bên đường với các tên du kích cầm súng trường CKC có gắn lưỡi lê sáng loáng như hù dọa đám tù đói khổ đang lê lết từng bước nặng nề, sau 4 ngày nổi trôi lênh đênh trên sóng biển. Không biết dân chúng bị bắt buộc đứng trên con đường này bao lâu để “chào đón” chúng tôi. Họ nói chuyện râm rang, bàn tán, chữi đổng… rất ồn ào, bọn tù chúng tôi uể oải, mệt lã, lầm lũi bước đi như kẻ không hồn. Đến ga xe lửa, cứ 50 người lên 1 wagon (toa), hàng mấy chục cái toa, loại toa tàu lửa để chở súc vật, đồ đạc, không có ghế ngồi và hoàn toàn kín mít, không có một cái cửa sổ nhỏ nào cả, 50 người ngồi bó gối chen chúc nhau. Tôi nhận chân được cái văn minh của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đường rầy xe lửa quá cũ kỹ từ thời Pháp thuộc để lại, những thanh sắt ngang, nay biến đâu mất tiêu, chắc cán bộ hỏa xa gỡ đem đi bán sắt vụn để “cải thiện’ đời sống. Thay những thanh sắt ngang bằng những thanh gỗ, khi bánh xe cán lên nghe âm thanh phập phình, khập khểnh, chúng tôi có cảm tưởng đường rầy sẽ “banh xà rông” và tàu hỏa sẽ trật bánh, đưa bao nhiêu con người cùng khổ xuống sông, xuống ruộng… Tàu hỏa chạy suốt đêm, đến gần trưa tới Nam Định, ngôi giáo đường Công Giáo giữa thị xã Nam Định loang lổ phong sương như các tín hữu của tôn giáo này đã từng bị chế độ cộng sản vùi dập không thương tiếc từ năm 1954 khi đất nước VN bị chia đôi.
Vì tôi là “xếp” toa này, nên được ngồi ngay cửa lên xuống mở hé, có 2 tên bộ đội ngồi chỉa súng ra ngoài, đó là ân huệ và cũng cái khổ cho tôi. Đến trưa, trời tháng 5 âm lịch, miền Bắc nóng khủng khiếp, hôm ấy có thể đến 100 độ F hay cao hơn, toa tàu đóng kín, qua khỏi Nam Định 2 tên bộ đội biến đâu mất và cửa này hoàn toàn bị đóng khóa chặt ở ngoài. 50 anh em chúng tôi mồ hôi mồ kê vã ra như tắm, có người ngất xỉu vì thiếu oxy. Tôi nảy ra sang kiến kêu gọi anh em nào có vật gì bén nhọn như cọng dây kẽm… ngồi xuống nạy các khe gỗ ở sàn tàu, may ra có kẻ hở để gió lọt vào mà thở.
May quá, trong balô của tôi còn sót một cái lưỡi cưa nhỏ xíu và cọng thép dài hơn 1 tấc mà khi còn ở Hóc Môn, tôi dùng trong việc chạm trỗ trên các cái lược bằng nhôm, đám cán binh xét tới xét lui, tịch thu biết bao cái “của quý” loại này rồi, nay còn sót 2 món bảo bối quý hiếm đó. Tôi miệt mài khơi cạy chừng 10 phút , tàu lửa ngừng lại một ga xép để nhận tiếp tế và tù được nhận 1 thùng nước để uống mà đội trưởng nhảy xuống toa tàu, khi 1 tên bộ đội đến mở cửa, phải chạy thật nhanh mang thùng nước về. Khi tôi ra khỏi toa, tên bộ đội lại khóa cửa, anh em luân phiên cạy, nạy, móc ra từng mảnh rác nhỏ, đất cát… và may mắn có luồng gió mát thổi vào khi tôi mang thùng nước nặng 20 lít đưa lên tàu vừa lúc tiếng còi tàu ré lên, từ từ lăn bánh. Anh em mừng quá vừa có nước uống đở khát vừa có luồng gió mát thổi vào một cái khe nhỏ bằng đầu chiếc đủa và dài hơn 1 tấc, gặp thanh gỗ bắt ngang nên tắt tị không “khựi” thêm được nữa. Bây giờ là cái khổ của người đội trưởng, ai cũng cần khí trời để thở cho khỏe nên anh em khó nhường nhau mà người đau yếu, nhất là các anh bị suyễn kinh niên ốm yếu chỉ nằm chờ chết, làm sao chen giành lại với các anh khỏe hơn?. Tôi bèn có quyết định, lựa 4 anh to con như tôi hoặc to khỏe hơn tôi, ngồi chung quanh cái lỗ thông hơi cứu tinh này. Ai ngất xỉu được ưu tiên chuyển tới lỗ thông hơi hít thở vài phút, nhường chỗ cho anh khác tới thay. Nhờ anh em toàn là cấp chỉ huy cũ nên dễ thông cảm và tự thấy mỗi người có trách nhiệm giúp đở nhau trong cảnh cùng cực này. Dù vậy, càng về trưa, càng oi bức mà trời lại đứng gió nên có nhiều anh em ngất xỉu, tôi phải vỗ cửa bình bịch kêu cứu khi xe ngừng lại tại một ga nào đó. Nhiệm vụ của đội trưởng là phải dìu hay phải cõng anh bị xỉu chạy nhanh đến toa cấp cứu. Toa này chỉ là toa có nhiều cửa mở toang 2 tên bộ đội ngồi ghìm súng trên đó, anh nào may mắn được đưa đến đây đều được thoát chết vì được thở không khí ở ngoài tràn vào. Tôi gặp một anh bò ngũ thân quen đang nằm tại đây và anh cho biết Trung tá Ngô Văn Hùng, Trưởng Khối Kế Hoạch Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đã tắt thở, không đưa kịp đến toa cấp cứu này và xác anh ấy bộ đội áp tải cho khiên xuống rồi, cách đây 1 trạm. Tôi vốn quen biết Trung tá Hùng, vì khi ông đi làm đều phải đi ngang qua Khối Thông Tin Giao Tế mà tôi đang phục vụ, ở số 2 ter Đại lộ Thống Nhất – Sài Gòn. Sau này, tôi nghe còn có thêm vài bò tứ hay bò ngũ cũng qua đời trong chuyến tàu lửa định mệnh này. Nhờ những cái chết oan khiên của các anh ấy mà từ đó về sau khi chạy ngang Hà Nội cho tới ga cuối cùng Yên Bái, các cửa lên xuống đều được mở toang để có không khí lùa vào toa. Nhiệm vụ đội trưởng quá vất vả của tôi cũng chấm dứt tại bến phà Âu Lâu của tỉnh Yên Bái, sau đúng 1 ngày 2 đêm “nhậm chức”.

ĐƯỜNG LÊN SƠN LA GIAN KHỔ

Đến nhà ga Yên Bái gần sáng, ngày 16.6.76, bên nây bến phà Âu Lâu, chúng tôi được lùa đi cũng 2 hàng dọc đàng trước bước. Cán bộ giữ tù thông báo: Các anh được nhân dân địa phương đón tiếp và mời các anh uống nước vối cho mát để tiếp tục cuộc hành quân đến các trại. Hai bên vệ đường, có nhiều thùng nước vối đang còn lửa cháy phừng phực. Trong đời, lần đầu tiên tôi được thưởng thức nước vối có mùi khói phảng phất của đất Bắc, uống vào chả ra làm sao và tôi ao uớc nếu có một chén nước trà nóng trong đêm buồn thảm này uống chắc đả, phê lắm. Đi bộ xuống phà, nghe nhiều tiếng gà gáy sáng xa xa, báo hiệu một ngày mới nhục nhã và gian khổ đang chờ đón.
Lên bến bên kia thuộc địa phận khác, có nhiều đoàn xe molotova chờ sẵn, những người lính áp giải không phân biệt đội nào, cứ lùa tù lên đầy xe là được, hàng trăm xe lăn bánh đưa chúng tôi người về Hoàng Liên Sơn, người lên Sơn La, mãi đến chiều, tôi đến Sơn La, rừng núi ngút ngàn bất tận, đúng ngày 16.6.1976. Sau gần 6 ngày hành quân kỳ cục và khổ nhọc nhất, tôi đã nhận rõ tương lai mờ mịt của những người tù bị lưu đày lên xứ “nước Sơn La ma Hòa Bình”, đã đến đây chắc khó trở về sum họp với vợ con?.
Đoàn xe tù chúng tôi chừng vài chục chiếc, ước đoán cả 5-6 trăm người được đưa đến tận chân núi, nơi có 2 nhà tù lớn do Pháp khoét sâu vào vách núi, xây mấy chục năm trước để nhốt tù chánh trị. Sau này CSBV nhốt tù binh Mỹ và Đại Hàn mà vết tích còn ghi trên vách đá, nay nhốt chúng tôi. Trong đoàn tù này gồm toàn bò tứ, bò ngũ bên Quân Đội, bổng dưng có một xe toàn bò tam cũng đổ xuống , ngành cảnh sát đặc biệt, làm thành một đội riêng. 
Chừng 2 tuần sau nhiều đợt tù kế tiếp được chuyển tới và tiếp tục chuyển tới nữa mà đa số là những anh em thuộc quân khu 9 của cộng sản, ở miền Tây. Chuyển từ Cần Thơ ra đây và nhiều anh em cấp đại úy trở xuống trình diện đợt 2 ở Sài Gòn cũng được chuyển đến xã Mường Cơi này, nơi mà không có đủ nước sinh hoạt hàng ngày cho cả chục ngàn tù binh mà CSBV gọi chúng tôi khi mới đặt chân lên xứ này.

Đợt tù đầu tiên đến đây lại gặp gần 100 anh em tù bị bắt từ mùa hè đỏ lửa 1972, ở trận Hạ Lào và đặc biệt có Trung tá Khương, Chỉ Huy Trưởng BCH Tiếp Vận V1CT bị bắt hồi Tết Mậu Thân 1968 ở Huế. Tình cờ, trong khi tôi đi lao động cất nhà mới để đón tiếp các anh em chuyển ra sau, gặp lại anh Nguyễn Văn Thuế, Thiếu tá Pháo Binh cùng học với tôi tại trường Sinh Ngữ Quân Đội ở đường Nguyễn Văn Tráng Sài Gòn, cuối thập niên 60 để chuẩn bị đi du học Hoa Kỳ, khi đó chúng tôi còn đeo lon Đại úy. Anh Nguyễn Văn Thuế bị bắt lọai hàng binh trong mùa hè đỏ lửa 1972 được CSBV cho ăn bánh vẽ, nghe nói cũng “le lói” trong hàng ngũ bộ đội CSBV cũng đeo “quân hàm” thiếu tá… Sau xin đổi qua diện tù binh để được trao trả theo Hiệp Định Ba Lê nên bị cộng sản đì, không những không trao trả mà còn bị nhốt tù để cùng với những anh em khác cất thêm trại chờ đón chúng tôi.
Một chuyện hi hữu và thương tâm làm nhiều anh em chúng tôi không cầm được nước mắt. Một anh Trung tá (quên tên) cùng ở một nhà với nhà thơ Hoàng Ngọc Liên, Tô Kiều Ngân, Văn Quang ở bên kia hàng rào, nhà bên này, nằm cạnh tôi có nhà báo Phan Lạc Phúc (đang ở Úc), chúng tôi chứng kiến một cuộc trùng phùng hi hữu giũa hai bố con truớc cỗng trại. Khi chúng tôi xếp hàng ra ngoài lao động “đốn tre đẵn gỗ trên rừng”, anh Trung tá gặp lại đứa con trai yêu quý của anh, cấp bậc Thiếu úy đã bị ghi nhận là mất tích trong một trận chiến mùa hè đỏ lửa 72, nay lù lù xuất hiện nhận diện được cha mình cùng đang ở tù chung trại.
Cũng tại trại Sơn La này, người tù chết đầu tiên là nhạc sĩ Thục Vũ, tôi lại quên tên, anh là Trung Tá làm Trưởng khối Chiến Tranh Chính Trị ở Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ hay là Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, anh chết vì đau và sau khi hút được 1 “bi” thuốc lào thoải mái, anh thanh thản ra đi. Người chết kế tiếp cũng tại K1 có 2 nhà tù đá kiên cố này là anh Trung tá Tường, nguyên Trưởng Phòng Tổng Quản Trị Quân Đoàn 4 ở Cần Thơ mà tôi gặp anh hàng ngày khi chúng tôi cùng làm việc tại đây. Anh Tường chết vì uống thuốc tự tử, anh chán đời, chán cảnh tù khổ sai không biết ngày nào được thả ra…

Trại tù Sơn La, khi chúng tôi đến “tạm trú” đầu tiên chỉ vỏn vẹn có 2 nhà đá có từ trước. Với chừng 100 anh em tù cũ gồm có Biệt Kích nhảy ra Bắc bị bắt hàng chục năm trước còn sống sót cùng với anh em bị bắt vào mùa hè đỏ 1972, cuộc hành quân Lam Sơn 719 sang Hạ Lào, cấp bậc từ hạ sĩ quan đến Trung úy, cấp cao nhứt là Trung tá Khương bị bắt 1968 tại Huế. Chính toán tiền đạo tù cũ hướng dẫn anh em chúng tôi cách “lao động xã hội chủ nghĩa” cất thêm doanh trại mới để nhốt tù lần lượt sẽ được chuyển tới từ trong Nam ra tiếp, trong phạm vi chừng 10 cây số vuông. Liên trại 2 Sơn La lúc cao điểm có đến 6 trại được phân định nhốt tù rõ rệt từng cấp bậc. Khu nhà đá gọi là K1, ở sâu trong núi “chuyên trị” nhốt tù có cấp bậc cao nhất ở đây là Trung Tá, K5 ở đồi chè Mường Cơi, gần đường lộ chính lên hướng huyện Phù Yên, gồm toàn bò tam và K6 nhốt toàn bò tứ trong đó có tôi, K6 cũng nằm gần trục lộ chính huyết mạch của tỉnh Sơn La. Còn K2, 3, 4 mới cất vội vã sau này nhốt các anh em ở các trại giam từ các tỉnh miền Tây Nam Bộ, tập trung tại các trại giam Cần Thơ và từ đó chuyển đến Sơn La. Tội nghiệp cho các anh em này đến Sơn La cũng là nơi trung chuyển để Liên trại ở Hoàng Liên Sơn cất thêm đủ chỗ, các trại K 2,3,4 của Sơn La sẽ chuyển về đó. 
Ở tù cộng sản, trại nào cũng khổ, nhưng mỗi trại tù có cái khổ nhiều ít khác nhau. Các anh ở miền Tây chuyển trại liên tục và đường lại xa hơn chắc chắn mệt khổ hơn chúng tôi từ Sài Gòn lên thẳng Sơn La.

TRẠI TÙ HỒNG CA - YÊN BÁI

Chuyện ở tù cộng sản, chúng ta viết hoài viết mãi cho đến chết cũng chưa có thể chấm hết được. Có đến 1001 chuyện khổ nhục về sự đối xử dã man tàn bạo của chế độ lao tù CS, cùng hung cực ác dành cho những người ngã ngựa của chính thể VNCH.
Đến năm 1978, có tin Trung cộng sẽ dạy cho CSBV một bài học, như chúng ta biết hồng quân TC đã xua hàng chục sư đoàn bộ chiến cùng với không yễm và pháo yễm đã tấn công vào các tỉnh cực bắc VN, giáp biên giới TC vào năm 1979. Ba trại 1, 5 và 6 ở Sơn La đã có lệnh “di tản chiến thuật” trước từ gần cuối năm 1978. Một nửa trại 6 chúng tôi được chuyển về trại Hồng Ca-Yên Bái do công an quản lý. Đó cũng là thời điểm, chúng tôi được chuyển sang diện tù thường không còn là diện tù binh như chúng tôi đến Sơn La được học tập chính sách 8 điểm của bộ đội cộng sản đối với tù hàng binh. 
Chúng tôi thấy có sự khác biệt rõ rệt. Bộ đội quản lý trại tù có phần dễ dãi đôi chút hơn là đám công an dùng kỹ luật sắt đối với chúng tôi, mỗi lần di chuyển bằng xe thì 2 người bị chúng khóa chung 1 cái còng số 8, còn bên bộ đội khi chuyển từ Nam ra Bắc không bị còng, ngoài trừ quý vị đi bằng máy bay. Tiêu chuẩn ăn uống hàng tháng bị công an xén bớt, ăn sắn quanh năm thay cơm. Chính sắn tươi quy ra gạo cũng bị công an tính gian lận. Thí dụ 1 ký gạo ở bên bộ đội quy ra thành 4 ký sắn tươi hoặc 2 ký sắn lát khô. Còn bên công an cứ 3 ký sắn tươi quy ra 1 ký gạo, có nơi công an chỉ tính có 2 hoặc 2 ký rưỡi sắn tươi thành 1 ký gạo, còn sắn lát khô, cứ 1 cân (ký) quy ra thành 1 cân gạo. Tiêu chuẩn về cung cấp đường, thuốc lá, thuốc lào bên công an cũng rút bớt của tù để chúng bồi dưỡng hoặc mua bán đổi chác với các hợp tác xã trong vùng. 
Tóm lại, tại các trại tù do công an quản lý bắt người tù lao động cật lực chết bỏ, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm và có thể lao động cả ngày chủ nhật nữa mà bên bộ đội ít có xảy ra.
Chúng tôi ở trại 6 Sơn La, hơn một nửa chuyển về trại Hồng Ca-Yên Bái, số còn lại được chuyển về Nghệ Tĩnh. Còn trại 1 bò ngũ và trại 5 bò tam cũng vậy một số lớn chuyển lên trại Phù Yên gần quận lỵ Phù Yên-Sơn La, cách chỗ cũ chừng 20 cây số và một số chuyển về đâu đó, hình như cũng ở Nghệ Tĩnh.

TRẠI TÂN LẬP – VĨNH PHÚ KHÓ QUÊN

Bi đát nhất của cuộc đời ở tù cộng sản của tôi, gần đúng 10 năm, là K1 và K4 liên trại Tân Lập ở Vĩnh Phú. Vì vậy tôi không thể viết qua loa đại khái giai đoạn này, xin dành cho 1 bài khác vậy. Ở đây, chúng tôi chỉ tóm gọn, ở tù trại nào cũng khổ mà ai từng ở tù trại Tân Lập so sánh với các trại tù khác, quả trại này là địa ngục trần gian.
Từ Sơn La về Hồng Ca-Yên Bái, đây cũng là trạm trung chuyển, ở được vài tháng, ăn được một cái Tết tại Hồng Ca, tất cả “trại viên” được cho ăn 1 bữa khá no còn được tặng thêm gần 2 ký sắn luộc lại có kèm thêm đường cát trắng của Cuba. 
Ôi! hạnh phúc biết bao! vì bao năm tháng ở tù cải tạo, lần đầu tiên tôi được ăn một bữa no và còn có sắn và đường để mang theo bồi dưỡng cho cuộc hành trình mới, chưa biết lành dữ thế nào?. Ngoài cổng trại Hồng Ca có nhiều chiếc xe đò loại nhỏ chừng 20-30 chục chỗ ngồi đậu sẵn để chở chúng tôi về trại Tân Lập Vĩnh Phú. Cứ 2 người đeo chung 1 cái đồng hồ số 8, tôi cùng đeo chung đồng hồ với Linh mục Trần Quý Thiện, ngài cùng ở chung với tôi tổ, đội 8 ở trại 6 Sơn La. Nay tôi được ngồi ghế gần ngài có dịp tâm sự nhỏ to suốt lộ trình dài nên cũng đở lo nghĩ, sốt ruột. Khi xe đến bến phà Âu Lâu, chúng tôi xuống xe và đi bộ hai người dung dăng dung dẻ có cặp song hành, lần lượt xe qua hết thì chúng tôi lại lên xe. Trên đường đi ngang qua khu chợ đang họp vào buổi sáng gần bến phà, bỗng nhiên tôi bị đau bụng quặn thắt dữ đội. Báo cáo cán bộ áp giải xin đi ngoài, tên này không cho, tôi làm liều lôi Cha Thiện vào cái nhà nhỏ bỏ hoang cạnh đường, xin Cha thông cảm giúp tôi cởi quần cho nhanh và chưa kịp ngồi xuống là cái của nợ của một bữa ăn no và cộng thêm sắn bồi dưỡng cùng với đường cát trắng biểu tình lần lượt dzọt ra tới tắp. Tội nghiệp Cha Thiện chỉ biết nhìn trời hiu quạnh mà hít phải mùi chua lòm của tôi vừa phóng ra. Quả Cha Thiện rất gentleman ngài xé 1 mảnh báo Nhân dân có sẵn trong túi đưa tôi làm nhiệm vụ sạch sẽ cuối cùng.
Lên xe, tôi cứ tiếc mãi được một bữa ăn no lại có thêm bồi dưỡng, nay của thiên trả cho địa mà thân xác tiều tụy của tôi chắng có hấp thụ được chút chất bổ dưỡng nào.
Về trại Tân Lập với các đồi sắn chập chùng vô tận do các người tù đến trước trồng trọt, đám tù sau tiếp tục sự nghiệp đào hóc trồng sắn mệt nghỉ và ăn sắn quanh năm. Một năm chỉ có 5 lần được ăn 1 chén cơm vào các ngày chiều 30 Tết, trưa Mồng Một Tết, lễ Lao Động 1.5, ngày 2.9 cái gọi là quốc khánh của CSBV và ngày 1 tháng giêng dương lịch (Tết Tây).
Cái khó quên của tôi, đội 16 rau xanh sau qua đội 5 trồng sắn mà tôi là thành viên, có 2 anh cùng đội chết vì trời nắng gắt, Trung tá Nguyễn Văn Lạc, Trưởng phòng An Ninh QĐ2, Thiếu tá Lê Xuân Hường Trưởng khối CTCT Liên Đoàn 1 BĐQ. Một ngày nắng cực gắt ấy làm cho các cây sắn như muốn rũ lá, chúng tôi mắt nổ đom đóm như bị ngộp thở. Ai cũng đội nón đàng hoàng thế mà anh Lạc, anh Hường và 1 anh Trung tá nữa lăn quay ra chết và còn một anh cũng bị say nắng được chuyển về trạm xá, đến tối mới chết. Chỉ một ngày bị say nắng đã 4 con người vô tội đáng thương từ giã cõi đời. Chính nhờ có 4 cái chết oan nghiệt của các anh ấy đã giúp chúng tôi từ đó về sau, không còn cảnh lao động trong lúc trời đổ nắng đom đóm nữa. Đây là cảnh trại K1 vừa kể ở trên, tôi ở Tân Lập từ K2 qua K1 rồi bị chuyển sang K4 và sau cùng là K3 . Từ K3, tôi được chuyển về Nam từ tháng tư năm 1982, trại Z 30D, thuộc huyện Hàm Tân-Thuận Hải, trại này ở khu vực có tên là Rừng Lá. Đến cuối năm 1984, tôi được thả ra cùng với một số đông gần 200 người gồm nhiều cấp tá mà trước đó cấp tá thả ra rất hiếm hoi.

TRẠI TÙ CHÓT: Z 30D – HÀM TÂN (RỪNG LÁ)

Đến năm 1982, khi tôi được quy hồi miền Nam, đóng chốt ở trại Z 30D – Hàm Tân (Rừng Lá), gặp lại nhiều anh em bò tứ bò ngũ trong lần chuyển ra đất Bắc đầu tiên ngày 10.6.1976. Khi tàu hỏa đến ga chót là Yên Bái, ai đi toa nào phải sang sông qua phà Âu Lâu sẽ trực chỉ Hoàng Liên Sơn và Sơn La, toa nào ở lại Yên Bái thì có xe tải đến đón đưa về các trại ở Yên Bái.
Đợt đi đầu tiên ra đất Bắc, gồm toàn những người mà cộng sản đã xếp loại nợ máu nhiều, khó mà được thả ra trong vòng 5 - 6 năm như tin đồn đoán, hầu hết là cấp tá đến cấp tướng bên Quân Đội và bên hành chánh là những công chức cao cấp đến hàng Tổng Trưởng, các lãnh tụ đảng phái, tôn giáo, dân cử…
Bên Quân Đội, những vị từ cấp Đại tá đến Tướng được đi bằng máy bay C130 của ta “bỏ của chạy lấy người”, cứ 2 người đeo chung 1 cái đồng hồ số 8. Bên công chức cao cấp cũng vậy được đi bằng máy bay và cũng đeo đồng hồ như bên quân sự. Còn cấp thiếu tá, trung tá, hàng Giám đốc nha sở trở xuống, các đại úy thuộc Cảnh sát đặc biệt hay nhiều người cấp chức nhỏ nhưng lọt mắt xanh xếp loại nợ máu nhiều của chúng cũng được ra Bắc đợt đầu.
Cái bịp của CSBV, không những chúng bịp các người tù mà chúng còn bịp đối với mọi người dân lương thiện trong nước và ngay cả nhiều thành phần cán bộ của chúng, quốc tế cũng bị chúng cho ăn quả lừa bịp. 
Trưóc khi chuyển tù ra Bắc, tại trại Suối Máu-Biên Hòa, CSBV thiết lập tòa án quân sự bắn 2 anh Thiếu tá trốn trại. Tiếp theo, chúng cho tù học tập chính sách 12 điểm của cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để mọi người tù an tâm hồ hởi phấn khởi sợ mà ở yên “học tập tốt, lao động tốt”.
Sau này, CSBV dùng tàu lớn như tàu Sông Hương chở 1 lần mấy ngàn người tù đổ xuống bến ở gần cảng Hải Phòng để có xe lửa hoặc xe tải đưa đến các trại tù khắp đất Bắc.
Tại Z 30D có 2 K1 và K2 mà tôi được “biên chế” về K2 ở trong sâu, còn K1 là nơi có BCH trại làm việc nữa. Z 30D là khu rừng lá buông bạt ngàn, người ta lấy lá làm đủ thứ chuyện. Đường vào K1 và K2 có trồng thật nhiều sua đũa tha hồ mà ăn bông, nếu ăn bông sua đũa nhiều quá dể bị “tào tháo” đuổi chạy trối chết.
Được chuyển trại về tới miền Nam, dù ở trại nào, tôi cũng vững tin là mình sẽ còn sống, lúc ấy quả thật chúng tôi rất vui mừng (hồ hởi phấn khởi) thấy được đoạn cuối của con đường hầm tối tăm bắt đầu có ánh sáng hé lộ. Khí hậu thời tiết không còn khắc nghiệt như các tỉnh ở vùng rừng núi miền Bắc, gần gia đình dễ thăm nuôi và được thông báo những tin tức hấp dẫn, tù cải tạo sẽ được thả hết qua sự vận động của Bà Khúc Minh Thơ với chánh quyền Hoa Kỳ. Tất cả tù cải tạo sẽ được qua Mỹ… Nghe vậy chỉ biết vậy và chúng tôi vẫn bán tín bán nghi, chắc gì Mỹ chịu rước của nợ các ông tù cải tạo bệnh tật đem qua nuôi báo cô. Chuyện gì đến đã xảy đến tốt đẹp cho mọi gia đình tù cải tạo từ 3 năm trở lên hoặc ở tù 1 năm và nếu có tu nghiệp ở Mỹ bất luận bao lâu, cũng được xếp vào diện HO ra đi đàng hoàng, ngẫng đầu mà đi dưới con mắt khó chịu của cộng sản. 

KÉT LUẬN

Ai đã vào tù cộng trên đất Bắc từ Lào Cai, Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú, Sơn Tây… ở tận cùng miền Bắc xuôi vào Nam qua Nam Đình, Nghệ Tĩnh, về miền Trung Bình Trị Thiên, Cao Nguyên, miền Đông Nam Bộ cho đến miền Tây đến vùng cuối Việt Cà Mau, CSBV đã thiết đặt hàng trăm trại tù lớn, khắc nghiệt, lao động khổ sai, thiếu ăn thiếu mặc, hàng ngàn tù lần lượt ra đi về bên kia thế giới. Chưa muốn nói là chánh sách nhân đạo của CSBV xuyên suốt nhằm trả thù cái vụ chúng sinh Bắc tử Nam trong thời chiến vì chúng đi xâm lược miền Nam nên chúng phải trả giá. 
Nay miền Nam sụp đổ, CSBV trả thù một cách hèn hạ, tinh vi để cho những người ngã ngựa chết lần chết mòn trong các trại tù đói khổ, lao động khổ sai và bị hành hạ bỏ đói, đau không thuốc chửa trị…
Chuyện tù cộng sản không có bút mực nào mà viết hết và vì vậy mà tội ác của chúng tạo nên căn nghiệp mà luật quả báo của nhà Phật chỉ rõ “chủng quả đắc quả, chủng đậu đắc đậu” và tội nghiệp cho người dân lương thiện Việt Nam ở quê nhà cũng bị vạ lây vì luật nhân quả này./.

Trần Văn

Hồi-Ký 52 Năm Cuả SVSQTB/TD Khoáa 18

SVSQ PHAN-THANH-THẾ
Trung-đội 1, Đại-Đội 1, Tiểu-Đoàn 1.

Mến tặng thầy Vũ-trọng-Mục,người Đại-đội trưởng khả kính cuả tôi và các đồng-môn trước thuộc Đại-độ 13.

Ngày 18 tháng 3 năm 2017 , kỷ-niệm ngày ra trường cuả SVSQ khoá 18 Thù-Đức nên tôi cố-gắng viết bài để cùng các bạn cho ra đời cuốn kỷ-yếu nầy. Nhìn đầu tóc bạc phơ , tay chân run rẩy , đi bộ xa phải có xe lăn. Khoá trưởng Nguyễn-ngọc-Kỳ trông nó còn già hơn niên-trưỡng Nguyễn-bảo-Trị khoá 1 Nam-Định và niên-trưởng Hồ-sĩ-Khải khoá 3 THỦ-ĐỨC. Tôi sợ không còn lần sau nữa nên cố-gắng mà viết. Tội nghiệp nó quá lúc còn trẻ ham chơi nên bây giờ già hơn các bạn cùng khoá.
52 năm trôi qua nhanh chóng như mới ngày nào còn ở trường Bộ-Binh Thủ-Đức.
Năm 1959 tôi cố gắng học bài mỗi đêm tới 3 giờ sáng để đậu bằng tú-tài 2 Pháp (série sciences expérimentales) nên tôi bị lao phổi lúc nào mà không biết,sức khoẻ tôi sa sút, ho hen, thân hình còn da bọc xương .Cha mẹ tôi lo lắng nên đưa tôi đi bác –sĩ.Tôi được chụp hình phổi tại phòng khám cuả bác-sĩ Lý-Hồng-Chương trên đường Sương-nguyệt-Ánh Saigon . Bác-sĩ Việt-Nam thường hay phê bằng tiếng Pháp trên kết - quả cuả phim phổi.Vì là học-sinh chương-trình Pháp nên khi đọc kết-quả tôi đã khóc . Bác-sĩ ghi :
Lésions Évolutives sous les Clavicules.Caverne au sommet D. Tôi tạm dịch :
Bệnh phát triển ở hai bên phổi dưới chả vai lủng ở chóp phổi bên phải.
trời đất ơi, sao mình vắn số quá ! Tôi vội chạy về nhà báo tin cho cha mẹ, anh em biết . Mẹ tôi khóc nức nở vì tôi là đứa con trai mẹ tôi cưng nhất nhà . Mẹ tôi nói trên thế-gian nầy có cái gì mua được bằng tiền thì mẹ tôi sẽ mua cho tôi nếu tôi muốn .
May thay , giữa anh em họ hàng cuả tôi có người anh làm việc trong câu-lạc-bộ CSS ( Cercle Sportif Saigonais ) ở vườn Tao-Đàn .Câu lạc-bộ này hội viên toàn là người Pháp, đến đây chơi các môn thể-thao như đua ngưạ tennis , bơi lội v…v… Trong số hội-viên cuả câu lạc-bộ nầy có nữ BS Janine Blanche chuyên môn tri bệnh tim và lao phổi ( Pneumo – Tysiologie )phòng mạch cuả Bác-Sĩ nằm cạnh toà -soạn nhật-báo tiếng-Chuông trên đường Gia-Long ở Saigon. Mỗi buổu chiều có hàng trăm bệnh-nhân đến khám . sau khi xem phổi cuả tôi , bác-sĩ khuyên tôi đừng sợ ! Bà sẽ trị bệnh cho tôi mất vài năm mới hết và không có lấy tiền vì quen với người anh cuả tôi .
Tôi không còn được đi học nữa mà phải nghỉ dưỡng bệnh ở nhà . Tôi đến tuổi đi quân-dịch nên phải lấy thẻ trưng-binh . Thẻ trưng-binh mầu vàng ( có đủ sức khoẻ )
Vì bác-sĩ chỉ cấp thẻ mầu xanh cho những tên cụt tay cụt chân được miễn dịch mà tôi chớ có khám gì đâu ! năm 1964 ,tôi được gọi đi khoá 18, mang cập hồ-sơ bệnh-lý đi
Theo vào trại nhập-ngũ số 3 , bệnh tình cuả tôi được thuyên-giảm nhiều, cái lỗ lủng ở bên phổi phải đã lành, còn lại vết nám mà thôi. Bác-sĩ ghi :Nodules (nám) .
Sau ba lần chụp hình phổi lại tại Tổng-y-Viện Công-Hoà, tôi phải ra hội đồng y-khoa . Các bạn svsq lần lượt đi qua trường Bộ-Binh để được kịp khai giảng. Tôi đã ở trại nhập ngũ số 3 trên một tháng rồi , và đinh ninh sẽ trở về nhà sau khi ra hội-đồng y-khoa để hoãn dịch.
Trời đất quỷ-thần ơi, hội đồng y-khoa gồm : y-sĩ trung-tá Nguyễn-Minh-Tâm ( y-sĩ trưởng tyv Công-Hoà )
, y-sĩ thiếu-tá Phạm-hà-Thanh ( sau này là chuẩn-tướng cục trưởng cục Quân-y , còn lại nhiều y sĩ nữa mà tôi quên tên . Bác-sĩ Pham-hà-Thanh cầm phim phổi cuả tôi và đọc to lên : opacité. Opacité là phổi bị nám nhẹ , nhẹ hơn nodules mà bác-sĩ J.Blance ghi trong phim cuả tôi. Ông ta la lên Ap ! các bác-sĩ khác cũng lần lượt la lên Ap
! và cuối cùng , bác-sĩ Nguyễn-minh-Tâm cũng nói Ap !
Thế là tôi trở về trại nhập ngũ số 3 đưa cái đầu cho thợ hớt tóc nó hớt theo kiểu thượng- toạ .Lúc này trại nhập ngũ số 3 chứa đợt cuối cùng svsq khoá 18 bị gọi nhập ngũ trễ. Đa số là giáo- chức ngoài đời và một số công-chức cao cấp ở các bộ trong đó tôi còn nhớ anh Nguyễn-thanh-Ngọc sau này làm đại diện trung-đội 4 (đai-đội 1 )anh ta là chuyên- viên cao- cấp cuả ngân – hàng Quốc-gia . Tất cả svsq còn lại được đưa sang trường
bộ-binh Thủ-Đức . Khoá 18 đã khai giảng gần hai tuần lễ rồi.
chúng tôi bị luà lên Đại giảng-đường để nghe Đại-úy Ưng-thành-Long ( Tiểu-đoàn-Trưởng Tiểu-Đoàn 1 svsq nói chuyện ) cha nội này tôi biết khi còn là trung-úy huấn-luyện-viên vũ-khí lớp cao-đẳng quân-sự.
Ngồi trước mặt ông ta là những svsq có chức vụ cao ngoài xã-hội nên ông ta muốn dằn mặt. trong số những tai to mặt lớn nầy rủi thay có tôi là phó thường dân nam bộ, bệnh-hoạn cùng chung số phận ! Ông ta dáng người to lớn , tóc hớt cao , mặt mày nghiêm nghị, ông ta noí :
Các anh có chức vụ gì cao ở ngoài xã hội ,có quyền thế và tự-ái , các anh bỏ nó ở ngoài cổng trường đừng mang nó vào đây. Đây là cái lò luyện thép cuả quân-đội ,sắt thép chúng tôi nấu chảy thành nước huống hồ các anh.Kỷ-luật là sức mạnh cuả quân-đội!Nhìn gương mặt đằng đằng sát khí, BĐQ sát ! cuả Đại-úy Ưng-thành-Long
Mà tôi tè ra quần hồi nào không biết.
Chuá ơi ! Ngày hôm qua còn ở trong gia-đình được cha mẹ cưng , chung quanh bao nhiêu đầy tớ hầu hạ mà nay đoạ xuống tận đáy điạ-ngục hồi nào không biết, chốc nữa đây con còn gặp nhiều ngưu ma vương khác ở trường bộ-binh nầy. con xin chuá che chở cho con sống ở đây 1 năm trời được an- toàn nhìn thấy mặt cha mẹ.
Tất cả svsq còn lại được đưa về đại-đội 13 . Đại-úy Vũ-trọng-Mục , Đại-đội trưởng Đại-đội 13.Lời cầu nguyện cuả tôi có kết-quả, Đại-úy Mục , người có dáng bé nhỏ, ăn noí nhỏ nhẹ , dễ thương dễ mến lúc nào cũng lo cho đám đàn em này .May mắn cho tôi và đến ngày hôm nay
Hình ảnh cuả thầy Vũ-trọng-Mục chiếu trên TV làm cho tôi nhớ 52 năm về trước . Cám ơn thầy Vũ-trọng-Mục.
đại-đội 13 sống trong khu nhà lợp tôn nóng bức, hẻo lánh gần câu lạc-bộ Thanh-Hoa là nơi lý tưởng để vợ con binh-sĩ cuả trường nó họp chợ trời , bán bún bò huế, chè đậu đen, cà-phê đá.Có lúc QC 301 nó rượt đuổi svsq các đại- đội khác cầm tô bún bò huế chạy vào phòng ngủ cuả Đại-đội 13. Suốt ngày tôi phải nghe bản nhạc “Những đồi Hoa Sim”cuả Dũng-Chinh do Phương-Dung ca , đó là cái duyên -số .Sau này về Sư-Đoàn 23 BB ,tôi lại gặp Dũng-Chinh ( Chuẩn-Úy khoá đặc-biệt ), trước anh ta là trung-sĩ Sư-đoàn 9 BB, anh ta là nhạc-sĩ nên đa-tình,yêu nhầm người yêu cuả tướng ,ông tướng này từng cỡi voi rừng giữa miền cao-nguyên gió lạnh mưa muà.Dũng-chinh nó thất tình nên rượu chè be bét không sài được ở khối CTCT mà đưa nó ra tác- chiến . Tôi là Đại-đội trưởng cuả nó ở Tiểu-đoàn 2/44. Đại-úy Ngô-văn-Xuân khoá 17 võ-bị Đà-Lạt cũng rất buồn phiền anh ta.
Cuối năm 1968 nó chết ở mặt trận Phan-rang. Ở đây không có Hoa-Sim chỉ có nhãn rừng toả mùi hương thơm ngát quyện thân xác nó vào một đêm trong rừng núi . Tội nghiệp trước khi anh ta mất vài tháng , tôi và nó tâm sự và uống hết một chai whisky 7 crown cuả Mỹ.Nó xin lỗi tôi vì buồn mà quên trách-nhiệm cuả người sĩ-quan, tối ngày bỏ lính mà đi uống rượu.
Nguyễn-ngọc-Kỳ, nó cũng yêu nhầm người yêu cuả Tướng nên lãnh 30 ngày tù và từ trường đồng đế Nha-Trang trực-chỉ ra vùng đia đầu ,chỉ đường tơ kẽ tóc là bỏ mạng sa trường đâu còn được làm khoá trưởng như hôm nay..Yêu nhầm người yêu cuả tướng thì thân- bại danh liệt từ chết tới bị thương.
Tôi yêu nhầm người yêu cuả xếp nhỏ nên chỉ bị thương nhẹ giống như đi hành-quân đạp phải chông cuả VC chứ không có trầm trọng như hai thằng kia.
Giai-đoạn 1 được kết thúc ,tất cả svsq còn lại cuả Đại-đội 13 được đưa sang các đại-đội khác . Tôi được đưa về trung-đội 1 đại-đội 1và ở chung phòng với đám quỷ-sứ Đào-minh-Hùng,Vương-văn-Dũng,Nguyễn-San,Vũ-văn-Dương,Dương-mạnh-Thi,Trần-gia-Toản.
Ngày 19 tháng 2 năm 1965,còn một tháng nữa là sv/đại-đội 1 quỳ xuống để được gắn lon, Thiếu-tá Vũ Lộ,trưởng khoa chiến-thuật đưa chúng tôi lên thiết vận xa M 113 đi đảo chánh do thiếu-tướng Lâm-văn-Phát và Đại-tá Phạm-ngọc-Thảo đứng ra tổ-chức.
Thời còn học-sinh trung-học tôi đi qua đường Hùng-Vương thấy thằng lính bảo-an đứng gác trước cổng nha tổng-giám-đốc bảo-an và dân vệ cầm khẩu súng MAS 36 cổ lỗ sĩ cuả Pháp , tôi chán thấy mẹ ! Vậy mà Thiếu-tướng Lâm-văn-Phát đem một Tiểu-Đoàn bảo-an với sung MAS 36 và một đại-đội svsq súng garant M1, không có viên đạn nào đi đảo-chánh. Sau 2 ngày 1 đêm nằm trên lề đường từ Võ-di-Nguy đến trước cổng Bộ TTM, chúng tôi được chiếc xe lam 3 bánh phát cho mỗi thằng một gói xôi và phải xin nước cuả dân mà uống .Tôi
Nhìn trước cửa B.TTM bên kia đường có căn biệt- thự cuả bác-sĩ Phạm-kim-Tương, bác-sĩ cuả hàng không VN là suôi-gia cuả ông già tôi nên đỡ lo . Tôi bảo thằng bắc-kỳ Phạm-Hữu-Thanh nó nằm giường dưới rằng tao sẽ dắt mày chạy trốn vào nhà đó nếu lính dù nó tấn công . May thay, quân đảo-chánh đã đầu hàng quân nhẩy dù cuả chánh-phủ được điều đông đến . Tất cả svsq ĐĐ1 được hộ-tống trở về trường bộ-binh Thủ-Đức . Về đến sân ĐĐ1,súng garant M1 được lệnh dựng nó vào vách tường.Tất cả sinh-viên phải đưa hai tay lên đầu theo kiểu đầu hàng giặc , quỳ gối xuống để nghe an ninh quân-đội nó dạy 7 điều giáo lệnh cuả quân-đội .lúc này thiếu-tá Vũ-Lộ, trung-úy Nguyễn-văn-Vinh, đại-đội trưởng ĐĐ 1, thiếu-úy Lương-văn-Nở,thiếu-úy Lê-Hiến ,Thiếu-úy Nguyễn-văn-Thông, chuẩn-úy võ -hiến-trang được đưa đi nghỉ mát ở khách sạn 5 sao số 8 đường Nguyễn-bỉnh-Khiêm Saigon(cục an-ninh).
Dạy xong bài học 7 điều giáo lệnh cuả quân-đội,nó cho đi xuống nhà ăn để ăn cơm trưa . Đào –minh-Hùng nó chơi láng cơm canh mà không cần biết ngon dở thế nào vì 2 ngày không có ăn cơm.
bạn tôi , Đào-kim-Sơn tổng thư ký hội ái-hữu gò-Công đưa cho tôi xem bức ảnh chụp ban chấp hành hội.
Tôi nhìn thấy có mặt thầy Vũ-Lộ trong đó , tôi hỏi nó : sao có mặt cha bắc-kỳ Vũ-Lộ trong ban chấp hành hội Gò-công, nó trả lời ngày trước ổng là trung-đoàn trưởng trung-đoàn 12 sư-đoàn 7 ( dưới thời Lâm-văn-phát ) đóng tại Gò-Công nên hội mời làm cố-vấn. Đó là nguyên do thầy Vũ-Lộ dẵn chúng tôi làm đảo –chánh. Thưa thầy Vũ-Lộ , nếu tôi là thầy , tôi noí với thiếu-tướng Lâm-văn-Phát : Thưa thiếu-tướng , tôi không có quân trong tay xin thiếu-tướng tìm người khác và tôi ủng hộ thiếu-tướng bằng tinh-thân mà thôi.
Nếu ngày 19 tháng 2 năm 1965 , quân đảo chánh không chịu đầu hàng, lính dù sẽ tiêu-diệt ĐĐ1 khoá 18
Thì sẽ ra sao ? Thầy Vũ-Lộ !!Uất hận cuả cha mẹ svsq cao ngất trời xanh.Quân-đội mất đi những người con ưu-tú .
Muà hè đỏ lửa năm 1972, Thiếu-tá Đào-minh-Hùng (trung-đội 1, ĐĐ1) nổi danh trong liên-đoàn 81 Biệt-cách dù ở mặt trận Bình-Long.
Ngày 30-4-75 , Thiếu-tá Trần-hà-Phổ ( trung-đội 1, ĐĐ1 ) Quận trưởng quận Mỹ-An , tỉnh Kiến-Phong- Đồng-Tháp cho phá huỷ 2 khẩu pháo 105 ly và đem điạ phương quân rút vào rừng tràm ngập nước để chống lại VC mấy ngày liền và phải kéo cờ trắng đầu hàng vì thiếu nhiều phương tiện chiến đấu . Đồng tháp mười không có đường bộ di-chuyển mà chỉ sử dụng ghe xuồng để lưu-thông. Nơi quận lỵ này năm 1960( nếu tôi nhớ không lầm) Tiểu-đoàn 1 nhẩy dù cuả Đại-úy Dư-quốc-Đống tao ngộ chiến với Tiểu-đoàn 502 tây-đô cuả VC giữa đồng ruộng mênh mông.
Tôi cũng không biết tin tức nào cuả Đại-úy Võ -ngọc-trứ (trung-đội 4, ĐĐ1 ) Tiểu-đoàn trưởng tiểu-đoàn 517 Điạ-phương quân tỉnh Kiến-Phong, nó dẵn tiểu-đoàn về Trung-tâm-huấn-luyện Quốc-gia Chi-Lăng để học 6 tuần-lễ, Tiểu-đoàn-trưởng, phó, huấn-luyện-viên đều là khoá 18.
ĐĐ1 khoá 18 bây giờ chỉ còn lại 5 thằng lính già. Hôm nào hội ái-hữu Gò-Công mở tiệc hội-ngộ , tôi đưa 4 thằng Bắc-Kỳ Đào-minh-Hùng, Vương-văn-Dũng,Phạm-Nhượng-Lê, Nguyễn-Khang đến gặp thầy Vũ-Lộ.
Xin thầy nhín ít tiền già mà mua cho mỗi thằng lính già nầy mỗi đứa một chai bia Heinekein để vui vẻ với nhău mà sống đời tỵ-nạn ở xứ người.
Viết tại California , muà đông 2016
PHAN-THANH-THẾ.

HOÀI NIỆM

Đố ai giữ được Trăng đầu núi,

Xoay ngược Thời gian chạy trở về.

Nguyễn Nhật Minh

Đồng hồ trong Khu chờ đợi tại Phi Trường Tân Sơn Nhứt vừa chỉ đúng 8 giờ 30.  Còn một giờ nữa thì chuyến bay Sàigòn - Đalạt mới cất cánh.

Khu đường bay Quốc Nội của Phi Trường Tân Sơn Nhứt hôm ấy quá đông người. Tiếng máy phóng thanh lưu ý hành khách đi khắp nơi, hòa lẫn tiếng ồn ào của những người đưa tiễn thân nhân làm huyên náo cả khu vực, giống như cảnh chợ phiên nhóm họp vào buổi sáng. Tôi ra khỏi Khu Chờ đợi, đi chậm rải trong khoảng sân rộng trước cửa Phi Trường, bỗng nghe có ai đó gọi.

-         Khoa .. Đăng Khoa…

Tôi nhìn quanh khắp nơi chẳng thấy ai quen. Từ bên kia Câu Lạc Bộ phi trường, một Nữ Tiếp Viên Hàng Không (Hortesse de l’air) trong chiếc áo màu xanh da trời đang vẫy tay gọi tôi. Dù chưa biết là ai, nhưng vì nóng lòng muốn tìm biết người gọi tên mình, nên đi thật nhanh về hướng Câu Lạc Bộ. Vừa đến nơi, tôi đã nhận ra là chị Khánh Hoàng đang đứng trước quầy trả tiền. Tôi rất đổi ngạc nhiên không ngờ gặp chị nơi này.

-         Kìa Chị Hoàng !

Tiếng động cơ máy bay quá ồn, sợ tôi nghe không rõ. Chị nói lớn tiếng .

-         Khánh Vân đang ở nhà . Số …. Đường Trần Bình Trọng …… Quận ……Sàigòn

Em ghi rõ địa chỉ, Chị phải đi bay ngay bây giờ, không còn thì giờ nữa.

Nói dứt lời, chị đi thật nhanh về hướng Phi Trường, mặc cho tôi ngẫn ngơ nhìn chị, một Nữ tiếp viên Hàng không duyên dáng, thước tha với tà áo màu thiên thanh phất phơ trong nắng sớm, rồi hình bóng chị cũng khuất sau cánh cửa phòng dành riêng cho các Phi Hành đoàn trước giờ bay.

Chị Khánh Hoàng đến với tôi không mấy chốc lại đi, nhưng đã gợi lại trong tôi không biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, của thời học sinh tại Thành Phố hoa mộng năm xưa, nhất là vào năm cuối của bậc Trung học Đệ Nhị cấp.

Thuở ấy làm sao tôi quên được hình bóng một nữ sinh, với vẽ đẹp tự nhiên không chải chuốt, nàng có đôi mắt bồ câu long lanh, cặp mi cong, đôi lông mày đen dài, môi đỏ đầy dục vọng, mũi dọc dừa thanh tú, má lúm đồng tiền duyên dáng khi cười, nước da trắng ngần làm tăng thêm nhan sắc của một thiếu nữ miền Nam, khiến cho không ít nam sinh trong lứa tuổi của tôi thời bấy giờ đem lòng mơ tưởng.

Người nữ sinh ấy chính là Khánh Vân, em gái chị Khánh Hoàng mà tôi may mắn được học chung cùng năm Đệ Nhất với nàng. Thật lòng mà nói, tôi chẳng có đặc điểm nào khả dĩ gây được sự chú ý cho phái nữ, ngoại trừ có sức học tương đối khá và ngoại hình cũng dễ nhìn. Vì vậy mỗi lần được gọi lên bảng để giải những bài toán khó, Khánh Vân thường triều mến nhìn tôi bằng đôi mắt thán phục. Từ đó, tôi và Khánh Vân thân nhau trong tình học trò, rồi dần dần tình yêu nẩy nở lúc nào không hay. Đang miên man với những kỷ niệm xưa, thì loa phóng thanh từ Phi trường lại vang lên, đưa tôi về với thực tại.

  -    Chuyến bay Đà Lạt số …. sắp khởi hành, mời hành khách ra cổng lên tàu.

Tôi chậm rải đi theo dòng người ra cổng chính, để đến phi cơ đang chờ trên phi đạo, mà đầu óc cứ mãi suy nghĩ vẩn vơ.

Sau gần một giờ bay, chiếc phi cơ DC4 của Hàng Không Việt Nam đáp xuống phi trường Liên Khương dưới bầu trời đang đổ cơn mưa nhẹ, tôi cảm thấy lòng buồn vô hạn. Chiếc xe CAR của Air Việt Nam đưa tôi đến Thành Phố Đà Lạt lúc cơn mưa cũng vừa dứt.

Để kịp chuyến xe chiều đi Bảo Lộc, tôi nhanh chân đến bến xe, tiếp nối đoạn đường cuối cùng đến Thị Xã Bảo Lộc, nơi tôi phải trình dịện Đơn vị đầu tiên trong đời quân ngũ.

Chiếc Peugeot familiale bắt đầu đồ xuống đèo Prenn, rừng thông hai bên đường, như chạy theo vẫy chào réo gọi tôi, người vừa mới trở lại Thành Phố thơ mộng này sau bao năm xa cách. Trong khoảnh khắc đó, tôi bỗng nhớ lại cách đây gần thập niên về trước, cũng tại nơi ngọn đèo Prenn này, trong lần du ngoạn đến viếng các ngọn thác hùng vĩ của Tỉnh Tuyên Đức như Pongour, Gougah … do nhà trường tổ chức. Sau khi cuộc du ngoạn chấm dứt, trên đường về chiếc xe buýt của chúng tôi bị nổ bánh giữa lưng đèo lúc mặt trời sắp ngã bóng.

Tất cả chúng tôi phải xuống xe cuốc bộ tuy có mệt, nhưng riêng tôi thì rất vui, vì có dịp được đi chung thật lâu, trên quảng đường dài với Khánh Vân và chị Khánh Hoàng, Lúc đó chị Hoàng đang học Trường Pháp “ Couvent des Oiseaux “ cũng đi với chúng tôi trong chuyến du ngoạn lý thú này.

Đi được một khoảng, thì bất ngờ chị lùi về phía sau, như cố ý để tôi và Khánh Vân nói chuyện với nhau được tự do. Thật ra, ngoài ánh mắt và nụ cười trao nhau suốt lộ trình, Khánh Vân và tôi chẳng ai nói điều gì khác, ngoài chuyện sách vở đang học ở trường để chuẩn bị cho kỳ thi cuối năm sắp tới.

Mùa thi rồi cũng đi qua, và mùa hè cũng đang đến. Vào một buổi chiều dịu nắng, tôi từ nhà Nhà sách “ Thiên Nhiên “ trên đường trở về nhà, khi gần đến nhà Khánh Vân bỗng có tiếng gọi lớn.

-         Khoa….Khoa... Đăng Khoa.

Vì con đường về nhà tôi, cũng cùng đường ngang qua nhà Khánh Vân. Nghe biết tiếng Khánh Vân gọi tôi đứng lại, thì nàng cũng vừa đến.

Tôi hỏi đùa, hôm nay có việc gì mà gọi người ta bất ngờ vậy. Khánh Vân trả lời với nét mặt không vui.     

-         Có chuyện quan trọng, nên cả buổi chiều Vân chờ Khoa đi ngang qua đây để báo tin.

-         Sao Vân biết tôi về lúc nào mà chờ đợi, tin quan trọng gì vậy.

Khánh Vân không trả lời ngay câu hỏi của tôi, nàng nhìn xuống đất với nét mặt u buồn chậm rải nói thật nhỏ.

-         Vài ngày nữa Vân phải theo gia đình về lại Sàigòn. Khoa có buồn không.

Tôi choáng váng, thấy cả bầu trời như sụp đổ trước tin sét đánh đó, chưa biết trả lời sao thì nàng đặt vào tay tôi một mãnh giấy và bảo tôi mở ra đọc ngay. Mãnh giấy viết nghệch ngoặc vội vàng chỉ vỏn vẹn có 5 chữ bằng bút đỏ.

“ Khoa hãy quên Vân đi “.

Sự việc đến với tôi quá bất ngờ, còn gì đau đớn cho bằng, khi người mình từng yêu mến lại sắp bỏ ra đi. Tôi cố giử bình tỉnh hỏi tiếp.

-         Chừng nào thì gia đình đi.

-         Hai ngày nữa. Sau câu trả lời, Vân nhìn gương mặt buồn bả của tôi và lắc đầu như nuối tiếc cho mối tình vừa chớm nở lại phải rời xa.

Thời gian lúc này đối với tôi, như tính từng giờ từng phút.  Hai ngày nữa, nghĩa là chỉ còn 48 giờ, Khánh Vân sẽ mãi mãi rời xa thành phố này. Nghĩ như vậy, tôi không còn ngại ngùng gì nữa, lần đầu tiên cầm lấy tay nàng. Khánh Vân cũng để yên, và chờ phản ứng của tôi .

Cố nén niềm đau, tôi lấy lại bình tỉnh chậm rải hỏi.

-         Mình có nên gặp nhau lần cuối trước khi chia tay không .

Khánh Vân nhìn tôi thật lâu nàng gật đầu.

-         Khoa muốn Vân gặp lúc nào, tại đâu.

-         3 giờ chiều mai tại chỗ cũ.

Tôi đến nơi hẹn ngồi chờ Khánh Vân không lâu, thì nàng cũng vừa đến đúng giờ. Gặp tôi, nàng quay mặt nhìn xa vắng, không còn nụ cười tươi trên môi như mỗi lần gặp nhau trước đây. Tôi trải tờ giấy báo trên thảm cỏ để nàng ngồi, và lần đầu tiên tôi ngồi sát bên nàng, để tận hưởng hương thơm của mái tóc.

Cả hai đều yên lặng nhìn ra Hồ Xuân Hương, mặt hồ tỉnh lặng. Từng cơn gió thoảng tạo thành những đợt sóng nhỏ lăn tăn, chạy xô nhau trên mặt nước. Không gian cũng yên lặng một cách lạ thường, chỉ nghe tiếng chim ríu rít gọi nhau về tổ, trước khi trời chiều buông xuống. Để đánh tan bầu không khí yên tĩnh lúc bấy giờ, tôi ngập ngừng lên tiếng.

-         Khánh Vân về Sàigòn, bao giờ trở lại.

Khánh Vân ngước mặt nhìn tôi với đôi mắt u buồn, nàng nói rất nhỏ như không muốn tôi nghe.

-         Vân không biết . . . Tôi hỏi tiếp.

-         Về Sàigòn, gia đình Vân ở đâu.

-         Vân cũng chưa biết, một là ở Thị Nghè bên Gia Định, hoặc là Chợ Lớn tùy nơi Ba của Vân làm việc.

-         Biết đến khi nào Khoa mới gặp lại Vân đây. Người đi có biết người ở lại buồn đến mức độ nào không.  

Sau lời nói này, Khánh Vân nhìn tôi rươm rướm nước mắt rồi nàng gượng nói với tôi bằng câu nói không thật lòng.

-         Khoa hãy quên Vân đi, thời gian sẽ ….. Chưa nói hết câu, nàng lấy khăn chậm nước mắt.

Tôi cảm thấy tim mình đau nhói, mọi vật chung quanh như đảo lộn giữa vùng trời đen tối. Còn gì nữa đâu, bao nhiêu mộng ước mai sau, nay tan tành theo mây khói. Tôi muốn gào lên thật to.

     - Ôi nhân thế ! Sao lắm điều cay đắng.

Rồi việc gì đến sẽ phải đến. Hôm sau, trước cửa nhà Khánh Vân chiếc xe CAR thuê bao, bắt đầu chuyển bánh đưa gia đình nàng rời xa Đà Lạt. Chờ chiếc xe đưa gia đình Khánh Vân khuất dạng dần sau mấy cụm thông gìa, tôi mới thẩn thờ đi về nhà mà lòng nặng triểu với bao nổi tiếc nhớ. Tôi tiếc vì chưa một lần thổ lộ chính thức tình yêu với nàng và cũng như hôm nay, chưa được một lần đưa tiễn.

Thế là hết ….

Gió núi mây ngàn của Đà Lạt hãy còn đó, mà người thì giờ đây sẽ biền biệt ở nơi đâu ?

Ngày tôi trình diện Đơn vị, là một ngày vào đầu Thu, mưa rơi khắp đường phố trong Thị xã Bảo Lộc. Lòng đã vướng buồn mà cảnh càng làm tôi buồn thêm. Sau khi mặc chỉnh tề bộ Treillis màu xanh lá rừng và mang cấp bậc Chuẩn Úy trên cổ áo. Ông anh rể tôi là Chánh Văn Phòng Tòa Hành Chánh Tỉnh Lâm Đồng, đưa tôi đến nơi tôi cần đến để trình diện. Đó là Cơ quan An Ninh mới được thành lập không lâu tại Tỉnh này.

Sau khi chào kính vị Đại Úy Trưởng Ty, tôi được ông hướng dẩn đến giới thiệu các Ban ngành trực thuộc, và bắt tay một Sĩ Quan khóa 16 đã đến đây trước tôi khoảng 6 tháng. Theo sắp xếp, Anh ta và tôi ngồi làm việc chung một phòng.

Giờ đây, từ nhân sự đến công việc đối với tôi hoàn toàn xa lạ. Điều làm tôi lo lắng nhiều hơn cả, là ông Chef của chúng tôi không bao giờ thấy ông nở nụ cười trên môi, nước da ngâm đen, gương mặt lại khắc khổ, chiếc kiếng Rayban đen luôn che kín đôi mắt của ông. Nhìn ông, ai cũng nghĩ ông là người khó tính. Dù vậy, khi trình diện và nhận công việc xong, tôi lấy cớ phải thu xếp một số công việc còn dở dang, để xin vài ngày phép về Sàigòn, nhưng thật ra, mục đích là đi tìm lại người xưa, theo địa chỉ mà chị Khánh Hoàng cho tôi, khi gặp chị tại Phi trường Tân Sơn Nhứt.

Lần theo địa chỉ, không mấy khó khăn để tìm ra nhà Khánh Vân. Tôi dựng chiếc Yamaha bên lề đường, khóa xe cẩn thận mới đến cửa bấm chuông. Cửa mở, tôi nhận ra ngay người vừa mở cửa chính là mẹ Khánh Vân. Thời gian đã khá lâu mà bà vẫn còn nhận ra tôi, vì trước đây khi còn ở Đà Lạt, tôi chỉ gặp và chào bà có một lần. Tôi chưa kịp chào hỏi thì bà đã lên tiếng.

-         Cháu vô nhà, Khánh Vân đang ở trong.

Bước vô phòng khách, thấy Khánh Vân đang ngủ trưa trên chiếc divan bằng gỏ đỏ (loại gổ quí trên vùng cao nguyên). Bị mẹ gọi bất ngờ, nàng bật dậy lơ lào nhìn chung quanh, chợt thấy tôi nàng vô cùng kinh ngạc nói ú ớ.

-         Sao . . .  biết Vân ở đây . Tôi thản nhiên trả lời.

-         Khoa gặp chị Hoàng tại Phi Trường Tân Sơn Nhứt cho địa chỉ, mới tìm được nhà ở đây.

Như ngầm hiểu vê chuyện quen biết giữa tôi và Vân ngày xưa, nên mẹ Khánh Vân bỏ đi ra sau nhà, khi ấy nàng cũng vào trong, mang ra cho tôi một ly nước cam đặt trước mặt rồi vô phòng riêng. Một lát sau Vân đi ra với bộ đồ màu xanh lá mạ trên người. Nhìn nàng, tôi không thể ngờ bây giờ nàng lại đẹp đến thế, đẹp hơn cả lúc còn đi học. Thấy tôi cứ mãi nhìn, Vân cười và nói.

 -    Bộ Vân lạ lắm sao mà Khoa nhìn dử vậy.

 -   Vân bây giờ đẹp lắm, đẹp nhiều hơn xưa.

Trong phòng khách hiện giờ chỉ còn có tôi và Khánh Vân, nên tôi nghĩ đây là cơ hội duy nhứt đươc trực tiếp nói chuyện nghiêm túc với nàng, để hiểu thêm tình cảm của nàng dành cho tôi có còn được như xưa không, bởi vì đã nhiều năm dài, chẳng hề có thư từ qua lại, vã lại mỗi người mỗi nơi, thì làm sao tránh khỏi lòng người không thay đổi.

Khánh Vân ngồi xuống ghế đối diện và mời tôi uống nước. Tôi cúi xuống định bưng ly nước cam lên uống, chợt thấy dưới tấm kiếng mặt bàn có một tấm hình chụp tại một hồ nước ở đâu đó, mà người đứng bên cạnh Khánh Vân là một thanh niên lạ, chẳng biết có quan hệ gì với nàng không. Thấy tôi chăm chú vào tấm hình, Khánh Vân hơi giật mình nhìn tôi, nàng nói có vẽ không được tự nhiên.

-         Không .. không phải …đó là anh Nghĩa đang học Sư phạm, chỉ là… bạn thôi.

-         Vân đừng ngại, dù là bạn hay là gì đi nữa cũng chẳng sao đâu.

-         Không, …. Khoa đừng nghĩ gì khác, chỉ là bạn thôi.

-         Hôm nay Khoa đến đây, không biết lúc nào trở lại, nên muốn hỏi Vân đôi điều mong Vân thật lòng trả lời.

Khánh Vân im lặng hồi lâu mới nhỏ nhẹ lên tiếng .

     -    Khoa muốn nói với Vân điều gì, quan trọng lắm không.

     -    Đối với Khoa rất quan trọng, Vân biết đó, dù bao năm xa cách hình bóng Vân vẫn mãi trong tim Khoa. Sau ngày gia đình Vân về lại Sàigòn. Khoa rất buồn có dò hỏi bạn bè, nhưng chẳng ai biết Khánh Vân ở đâu, may mà gặp chị Hoàng mới tìm được ở đây. Bây giờ không biết tình cảm Vân dành cho Khoa có còn được như xưa không.

Sau câu hỏi của tôi, Khánh Vân thở dài.

-         Thật ra, từ lúc rời xa Đà Lạt, Vân cứ tưởng không còn có ngày gặp lại Khoa nữa, và tình cảm cũng vì đó mà phôi pha ít nhiều theo năm tháng. Hôm nay gặp Khoa, Vân rất vui, đừng nhắc lại chuyện cũ làm gì.

-         Khoa không trách gì Vân đâu. Điều đó cũng là lẽ tự nhiên thôi. Ngày mai Khoa phải trở về Đơn vị, không còn có dịp gặp nhau, nên chẳng biết Khoa nói lên điều này với Vân có sổ sàng lắm không.

-         Khoa cứ nói, Vân nghe đây.

-         Trường hợp gia đình Khoa đến gặp hai bác về chuyện chúng mình, Vân có thuận ý không?

Lúc này Khánh Vân nhìn thẳng vào tôi rồi cúi mặt xuống nói như trách móc.

-         Tại sao lúc trước Khoa không nói.

-         Làm sao nói được, khi mà chúng ta còn trên ghế nhà trường, tương lai lại vô định. Khoa biết Vân rất khó xử về câu hỏi này. Nhưng Khoa muốn nghe Vân trả lời thật với lòng mình.

Khánh Vân im lặng không trả lời. Tôi nói tiếp.

-         Dù ngày xưa Khoa là người đến trước, nay lại là kẻ đến sau. Sự thể có phủ phàng đến đâu, Khoa cũng đành chấp nhận thôi.

Lúc này trên đôi má Khánh Vân đã có vài giọt lệ lăn dài. Tôi không biết những giọt nước mắt này nàng khóc cho ai. Câu chuyện đang dở dang thì một thanh niên từ bên ngoài đi vào. Khánh Vân đứng dậy giới thiệu với vẽ mặt mất bình tĩnh.

-         Đây là Đăng Khoa bạn học cũ của Vân tại Đà Lạt và đây là anh Nghĩa.

Tôi đứng dậy bắt tay người thanh niên tên Nghĩa vừa vô nhà.

-         Chào anh,

Anh ta cũng đáp lại.

-         Chào ành.

Thấy Khánh Vân bối rối, và không muốn nàng khó xử trong hoàn cảnh này, nên tôi chào từ biệt hai người. Khánh Vân đưa tôi ra cửa và nói.

-         Khoa cho Vân xin địa chỉ viết thư.

-         Để làm gì, có cần lắm không. Nói vậy nhưng tôi cũng cho nàng địa chỉ KBC của tôi, và rời khỏi nhà trong khi Khánh Vân đưa mắt nhìn theo.

Trở về Đơn vị làm việc khoảng tuần lễ thì nhận được thư của Khánh Vân. Trong thư chỉ có 4 trang giấy học trò, nhưng tất cả đều bị nhòa mực bởi những giọt nước mắt. Có lẽ Khánh Vân khóc nhiều trong lúc viết lá thư này đến tôi. Nội dung thư, Khánh Vân thổ lộ hết những gì đã xảy ra trong đời nàng, kể từ khi gia đình rời xa Đà Lạt và xa cả tôi.

Đọc đi, đọc lại nhiều lần, tổi chỉ biết thở dài mà buồn cho phận mình chứ chẳng biết trách ai. Những dòng chữ sau cùng, Khánh Vân mong tôi tha thứ, đừng kết tội nàng là kẻ bạc tình. Khuyên tôi hãy quên nàng, quên một mối tình không trọn, mà sớm lập gia đình để lòng nàng được thanh thản, không bị ray rứt bởi cảnh trái ngang, và mong sao tôi gặp được người bạn đời đức hạnh, thay thế nàng mang nhiều hạnh phúc đến với tôi trong suốt cuộc đời. Riêng nàng thì luôn nguyện cầu Đức Mẹ ban phước lành cho tôi mỗi khi đi lễ Nhà thờ.

Kể từ đây tôi không còn gì để nhớ để thương, tất cả đã xa rồi, kỷ niệm ngày xưa nay chỉ còn lại trong ký ức mà thôi.

Một năm sau đó, tôi nhận được thiệp hồng của Khánh Vân báo tin nàng thành hôn với Giáo sư Nguyễn hữu Nghia.

Rồi ngày tháng qua đi, vết thương lòng trong tôi cũng phai dần theo năm tháng. Vào một buổi chiều sau giờ tan sở, tôi cùng ông chef được vị Trưởng Phòng Nhì mời đến nhà dùng cơm tối. Lúc trò chuyện trong phòng khách, chúng tôi được một thiếu nữ đến mời nước. Hỏi ra mới biết nàng là bà con của chủ nhà và quê ở Châu Đốc, hiện là Công Chức Ty Tài Chánh Tỉnh.

Như con chim từng bị ná, tôi chẳng còn dám để tâm nhiều đến phái nữ, dù người thiếu nữ tôi gặp hôm nay cũng có dáng hình xinh đẹp, nét mặt dịu hiền, có nụ cười tươi luôn nở trên môi giống như Khánh Vân ngày xưa, với vẽ đẹp tự nhiên ấy, dù cho ai khó tính đến đâu cũng phải nhìn nhận nàng thuộc vào hàng phụ nữ có nhan sắc.

Cuộc đời có khi chuyện không mong lại đến, vào một buổi chiều, tôi đến khu Công Chánh tìm nhà một nhân viên, tình cờ đi ngang qua căn nhà có cửa sổ đang mở. Nhìn vô trong tôi ngạc nhiên thấy cô Công chức tôi thường gặp tại Ty Tài Chánh đang ở trong nhà, mà trước đây tôi gặp nàng nơi khác.

Vì muốn tìm hiểu, nên gõ cửa lấy lý do hỏi thăm nhà của nhân viên thuộc quyền . Cô nàng mở cửa, thấy tôi gật đầu chào và mời vô nhà. Để nàng khỏi ngạc nhiên, tôi nói ngay..

-         Tôi đang tìm nhà người quen, nên gõ cửa hỏi thăm, không ngờ gặp cô ở đây.

-         Anh ngạc nhiên cũng phải, hôm trước anh gặp tôi. Đó là nhà người bà con, còn đây là nhà người chị ruột. Sau vài câu xã giao, Tôi mạnh dạn hỏi.

-         Nếu cô không chấp, xin cho hỏi, vì sao từ Châu Đốc xa xôi, mà đến làm việc tại Thị Xã bé nhỏ, sáng nắng chiều mưa này.

-         Đây là câu hỏi mà tôi thừờng phải trả lời. Như anh biết đó, tôi có người bà con là Sĩ quan phục vụ tại Tiểu Khu này, muốn chị em tôi đến làm việc nơi đây vì khí hậu tốt, công việc lại thích hợp với phụ nữ.Khi lên đây thấy đúng theo những gì ông ấy nói, nên ở luôn và làm việc cho đến bây giờ.

Chị tôi hiện nay là Giáo chức trường Tiểu học Công Lập và tôi làm việc tại nơi anh thường gặp. Chuyện trò với nàng khá lâu, trước khi ra về tôi xin phép hỏi nàng.

-         Lần sau tôi đến thăm, có làm phiền gia đình không.

-         Nhà không có gì cả, nếu anh không chê mời anh đến.

Tôi ra về với niềm vui nhỏ trong lòng, kể từ nay tôi có chỗ để trò chuyện khỏi phải đi lang bang vô định như mọi khi.

Câu chuyện tôi thường đến nhà người nữ Công chức Ty Tài Chánh, không mấy chốc cả Tòa Hành Chánh hầu hết ai cũng biết. Lạ lùng hơn nữa những người thân quen, như ông Chef, ông anh rể của tôi, ông Trưởng Ty CSQG người mà tôi thường tiếp xúc trong công việc, và cả người bà con của cô nàng đều muốn tôi đến gần nàng thêm nữa để tiến tới hôn nhân.

Thời gian không lâu, cuộc hôn nhân của chúng tôi cũng được cử hành trọng thể. Bây giờ gia đình được hạnh phúc, ngoài tình yêu cho nhau, chúng tôi không thể quên ơn những người đã góp phần tạo nên những gì chúng tôi có được ngày hôm nay.

Sau 3 tháng tu nghiệp Trường Tình Báo Quân Lực Hoa Kỳ Thái Bình Dương (USARPACINTS) tại Okinawa, Japan trở về, nhằm lúc miền Trung chiến sự mỗi ngày một gia tăng, đặc biệt các vùng Ba Tơ, Đức phổ thuộc Tỉnh Quảng Ngãi bị đánh phá nặng nề nhất.

Có thể vì tình thế như vậy, nên khi về Đơn vị chưa được hai tuần thì được lệnh tăng phái một tháng, cho Chiến dịch Phản tình báo chiến trường do Trung Ương phát động.

Với trách vụ là Trưởng ban giải đoán tin tức tình báo chiến thuật, nên công việc cũng khá bận rộn, đôi khi còn phải đích thân đi phối kiểm các tin tức từ nơi xa, nhờ vậy mà tôi được biết thêm nhiều điều về quê hương Núi Ấn, Sông Trà.

May mắn hơn nữa, tôi có được một tài xế trẻ tuổi sinh trưởng tại Quảng Ngãi, những lúc rổi rãnh tôi thường nhờ anh ta đưa thăm các nơi sản xuất đường tán, đường phổi, đường phèn, kẹo gương, kẹo mạch nha , . . . Hoặc chạy xe trên Quốc Lộ 1A băng ngang qua cầu sông Trà Khúc đến núi Thiên Ấn nằm im lìm về phía Bắc dòng sông hiền hòa để ngắm cảnh.

Ngoài ra, anh cũng giới thiệu với tôi các đặc sản của quê hương anh, nên tôi được anh đưa đến các quán ăn có tiếng trong Thành Phố, để thưởng thức các đặc sản của xứ Quảng, mà anh thường nói như món “Don” món “Ram” và nhiều món khác của Quán 72 trên đường Võ Tánh mà chủ nhân của quán này là ông Thiện.

Chưa hết, anh còn đưa tôi tới quán ông Giới đường Quang Trung (Trà Khúc) để thưởng thức món chim Mía. Tất cả các món ăn này thật khoái khẩu và đều có hương vị rất đặc biệt. Anh còn ví von, nếu ai đến Quảng Ngãi mà chưa dùng các đặc sản này, thì coi như chưa đến Quảng Ngãi, câu nói đó cũng chẳng sai.

Thời gian trôi qua rất mau, chỉ còn một ngày nữa là tôi phải rời xa Thành Phố này, để trở về Đơn vị trong niềm luyến tiếc. Sáng hôm ấy tôi dậy sớm, sắp xếp gọn đồ cá nhân vào vali, nhờ anh tài xế đưa ra phố mua vài vật kỷ niệm, tiện thể chạy xe quanh Thành phố, nhìn lại các con đường tôi từng đi qua để chia tay lần cuối.

Quảng Ngãi tuy không là quê hương của tôi nhưng sao tôi thấy gần gủi quá, thời gian không còn bao lâu nữa là phải chia tay. Chia tay với người dân xứ Quảng hiền hòa, với dòng sông Trà khúc lặng lẽ chảy quanh, với cảnh núi Ấn mơ màng khi chiều xuống.

Bỗng anh tài xế cho xe dừng lại trước quán cà phê bên đường. Tôi chưa kịp hỏi thì anh đã lên tiếng.

-         Mời ông Thầy vô dùng cà phê. Em bảo đãm ông Thầy sẽ nhớ mãi hương vị cà phê xứ

Quảng của em. Tôi cười nhìn anh ta.

-         Ừ, để coi cậu nói đúng không.

Chúng tôi xuống xe đi vô quán. Một cậu bé độ 5,6 tuổi khoanh tay chào.

-         Cháu chào hai bác. Tôi xoa đầu cháu mà khen cha mẹ khéo dạy cháu lễ phép.

Quán giờ này cũng vắng khách, chúng tôi kéo ghế ngồi. Một thiếu phụ từ bên trong đi ra hỏi.

-         Hai ông uống gì. Trong lúc tôi nhìn ra đường, anh tài xế ngồi đối diện với tôi nhanh nhẩu trả lời.

-         Chị cho tôi xin ly cà phê đen có đá, rồi anh ta nhìn tôi hỏi.

-         Ông Thày uống gì.

-         Xin chị cho ly cà phê sữa đá.

Trong lúc chờ đợi, tôi bật lửa đốt điếu thuốc Ruby Queen thả nhẹ hơi khói, nhìn quanh thấy quán tuy nhỏ nhưng sắp xếp rât thứ tự và đẹp mắt.

Cháu bé lúc nãy bưng ly cà phê đen đi từ từ ra đặt trên bàn rồi chạy đi. Người thiếu phụ chủ quán cũng vừa mang ly cà phê sữa định để trước mặt tôi, nhưng khựng lại, khiến ly cà phê sắp đổ. Tôi đưa tay giử lấy ly cà phê trên tay nàng mà không khỏi ngạc nhiên với cử chỉ lạ lùng của chủ quán. Đặt ly cà phê xuống bàn nàng vội quay đi như muốn trốn chạy. Tôi đứng lên nhìn nàng, rõ ra là Khánh Vân. Tôi kêu lên.

-         Kìa Khánh Vân! Sao Vân ….lại… ở đây.

Khánh Vân không nhìn tôi, nàng cúi mặt nói trong nghẹn ngào.

-         Chuyện dài lắm, không ngờ Vân gặp lại Khoa trong hoàn cảnh này.

Anh tài xế, hết nhìn tôi lại nhìn người chủ quán rồi ngạc nhiên hỏi.

-         Ông Thầy có quen với chị chủ quán sao. Tôi không trả lời chỉ gật đầu.

-         Chắc đã lâu gặp lại, ông Thầy ngồi nói chuyện, em chạy ra phố một chút.

Đợi anh tài xế lái xe đi, Khánh Vân khép bớt cửa quán, nàng kéo ghế ngồi đối diện với tôi gương mặt thoáng buồn. Câu bé lúc nãy thấy Khánh Vân và tôi trò chuyện nên đến hỏi mẹ.

-         Ai vậy mẹ. Khánh Vân xoa đầu con và trả lời.

-         Cậu Khoa của con đó. Nàng quay sang tôi nói tiếp.

-         Bé Lâm con trai duy nhất của Vân.

Nhìn Khánh Vân tôi thấy quá thương xót cho nàng, nhưng vì muốn biết chuyện gì đã xảy ra, nên lên tiếng hỏi.

-         Cả gia đình Vân đều là nhà giáo đang dạy học tại Sàigòn mà, sao lại phải ra đây, Vân có thể cho Khoa biết được không, nếu không tiện thì thôi.

Khánh Vân nhìn vào khoảng không, chậm rải trình bày hết nổi lòng mình từ lâu khép kín.

-         Sau ngày anh Nghĩa ra trường được bổ nhiệm Giáo sư dạy lớp Đệ Tam của một trường Công Lập và Vân cũng được bổ nhiệm dạy một trường Trung học Đệ Nhất cấp bên Gia Định

Vợ chồng Vân sống hạnh phúc bên nhau hơn một năm thì sinh bé Lâm. Thế rồi vào một ngày Vân không nhớ rõ, anh Nghĩa nhận được điện tín của cô em gái từ Quảng Ngãi báo tin “Mẹ đau nặng, anh Nghĩa về gấp”.

Nghe Vân kể đến đây tôi hỏi tắt ngang.

-         Anh Nghĩa là người sinh trưởng tại Quảng Ngãi phải không.

-         Phải, anh Nghĩa mồ côi cha lúc anh 15 tuổi là con trai trưởng, và anh chỉ có cô em gái duy nhứt tên Nga cùng sống chung với mẹ.

Sau khi đậu Tú tài toàn phần, mẹ anh khuyên nên thi vào Sư phạm để nối nghiệp cha. Vì thân phụ của anh cũng là nhà giáo. Tuy có lời khuyên của mẹ nhưng anh vẫn đắng đo, sợ  không ai chăm sóc mẹ khi phải vô thi Sư phạm tại Sàigòn và cũng có thể sẽ phải làm việc tại đây. Thấy anh Nghĩa phân vân, cô Nga cũng khuyên anh nên yên lòng mà lo cho tương lai. Mọi chuyện trong gia đình đã có cô. Cả mẹ và em cùng khuyên bảo, nên anh yên tâm ra đi.

Sau khi tốt nghiệp, anh được bổ nhiệm dạy học tại Sàigòn. Hôm nhận được điện tín, Anh Nghĩa vội vàng xin phép Trường về thăm mẹ, sau một tuần thì anh trở về Sàigòn với nhiều nổi ưu tư. Anh cho biết bệnh tình của mẹ chưa thuyên giãm, mà cô em gái sắp phải theo chồng làm việc tại Tỉnh khác. Biết được như vậy, Vân đề nghị anh Nghĩa nên xin thuyên chuyển về dạy tại Quảng Ngãi. Anh ngần ngại hỏi.

-         Còn Vân và bé Lâm thì sao

-         Vân cũng xin thuyên chuyển cùng con theo anh đến Quảng Ngãi, nếu không được thì em cũng sẽ xin thôi dạy để lo cho anh và bé Lâm đang cần sự chăm sóc của em.

Mọi việc đâu đó đều được êm xuôi và sự chuẩn bị cho chuyến đi không trở lại cũng tạm xong.

Đâu ngờ chuyến xe đò xuôi về miền Trung hôm ấy, là chuyến xe định mệnh của gia đình Vân. Nói đến đây thì nàng bậc khóc, làm tôi cũng thấy xốn xang trong lòng. Nàng nói tiếp.

-         Khoa biết không, xe chạy được một ngày đường thì xảy ra tai nạn do vụ hai xe đụng nhau vì tranh qua mặt trên khoảng đường quanh co. Kết quả cả hai xe đều bị lật.

Tai nạn khủng khiếp xảy ra gây thương vong cho nhiều người trên hai xe. Chiếc xe của gia đình Vân đi chết 5 người có cả tài xế còn lại tất cả đều bị thương. Anh Nghĩa ngồi bên ngoài bị thành xe đè gãy cả hai chân, trong lúc đau đớn ấy mà anh còn cố gắng hỏi Vân và bé Lâm có sao không. Vân cho biết, bé Lâm ngồi trong lòng nên không việc gì còn Vân thì bị thương bên cánh tay trái.

Tất cả người chết và bị thương được đưa vô bệnh viện cấp cứu. Trong số người bị thương, anh Nghĩa là người bị nặng hơn cả, đến nổi việc chữa trị cho anh phải họp bàn với nhiều Bác sĩ trong bệnh viện. Quyết định sau cùng của các Bác sĩ là anh Nghĩa phải bị cưa cả hai chân phía dưới đầu gối 20cm.

Lúc này Anh Nghĩa đang hôn mê, còn Vân thì hoảng hốt trước tin sét đánh đó. Vân van xin các Bác sĩ giúp đỡ cho anh Nghĩa chỉ phải cưa một chân thôi. Nhưng không được, các Bác sĩ cho biết vì xương cả hai chân đều bị dập, không làm sao phục hồi được, nếu không giải quyết ngay sẽ nguy hiểm cho nạn nhân.

Lúc bấy giờ Vân khổ sở vô cùng, chỉ biết khóc và khóc mà thôi, còn gì đau đớn cho bằng chồng thì sắp bị cưa chân, còn Vân đang bị thương cánh tay lại phải ẩm bồng lo cho bé Lâm chẳng biết trông cậy vào đâu.

Nghe Vân kể đến đây tôi không làm sao cầm được nước mắt, nhưng phải ngoãnh mặt nơi khác sợ Vân nhìn thấy càng làm nàng mủi lòng.

Sau tai nạn đó, Anh Nghĩa được trợ cấp một số tiền tương đối, và các đồng nghiệp cũng đóng góp chia sẻ nổi thương đau với gia đình Vân.

Nhờ có được số tiền đó mà Vân xin phép sửa lại căn nhà đang ở thành hai phần, phần trước làm quán cà phê này, phía sau để ở. Anh Nghĩa lúc ấy di chuyển bằng hai nạng gỗ rất khó khăn, anh thường thở dài than trách, chẳng giúp gì cho gia đình lại làm khổ vợ con. Vì thấy Vân quá cực, phải thức khuya dậy sớm lo cho mẹ, lo cho chồng, lo cho con đi học và lo việc bán buôn hàng ngày để kiếm sống nuôi gia đình.

Có lần anh có ý tìm đến cái chết. Vân đoán biết nên khuyên anh hãy vui sống với vợ con, mong anh đừng quẫn trí mà làm cho gia đình khổ thêm.

Trước mặt chồng con, lúc nào Vân cũng tươi cười, nhưng sau đó có ai biết được trong lúc mọi người yên giấc,Vân ngồi khóc một mình, khóc cho thân phận khóc cho cuộc đời bất hạnh của Vân.

Nói đến đây, nàng khóc nhiều hơn, tôi chẳng biết phải làm sao để ngăn những dòng nước mắt thương đau ấy, không còn lăn dài trên đôi má nàng. Sự thể đến nổi này sao, môt cô giáo tay yếu chân mềm sinh đẹp ngày xưa, nay phải bương chãi để kiếm sống qua ngày.

Ngưng giây lát. Vân tiếp tục nói.

Tuy Vân có khổ cực về tay chân, nhưng đổi lại cũng được an ủi phần nào vì anh Nghĩa giờ đây cũng  phụ giúp Vân được vài công việc nhỏ bên trong quán, khi rỗi rãnh anh đọc báo và dạy cho bé Lâm học, anh không thể ra ngoài tiếp khách như Vân. Mỗi khi thấy anh chống nạn tỳ người vào cạnh bàn để rửa ly, tách, Vân không cầm được nước mắt thương anh vô cùng.

Nghe Vân kể hết chuyện của đời mình lòng tôi se thắt, cảm thương cho nàng sao lại gặp quá nhiều nổi bất hạnh.

Câu chuyện đến đây, thì cũng vừa lúc anh tài xế đem xe đến giục tôi.

-         Ông Thầy từ giả chị đi, để còn về chứ chiều rồi. Ngày mai ông Thầy còn phải lên đường nữa.

Anh tài xế nói xong, Vân nhìn tôi và nói rất nhỏ.

-         Ngày mai Khoa trở về với gia đình, cho Vân gởi lời thăm chị và các cháu, mong gia đình Khoa luôn hạnh phúc. Tiếc rằng gặp nhau quá đột ngột, Vân không kịp chuẩn bị một vật kỷ niệm nào để tặng Khoa lúc này.

Mỗi câu nói của Vân như những mủi kim đâm vào lòng ngực. Tôi nghẹn ngào nói không nên lời, đứng dậy nhìn Vân thật lâu, trong lúc nàng vẫn còn rưng rưng nước mắt. Tôi cầm lấy tay nàng mà không muốn rời ra.

Sợ người tài xế chờ, Vân rút tay về và nói với tôi lời từ biệt sau cùng.

Anh tài xế mở máy cho xe lăn bánh, nhìn ra sau tôi vẫn thấy hai mẹ con Vân đứng trông theo, cho đến khi xe khuất sau lớp bụi đường dầy đặc trong buổi chiều phai nắng.

Xa cách bây giờ chỉ ước mong

Kỷ niệm ngày xưa xin để lòng

Đừng mang nổi nhớ gom thành lệ

Để khỏi đau lòng lúc đợi trông .

 

Nhật Minh  (Sept, 1st  2014)

 

Add headline

I'm a paragraph. Click here to add your own text and edit me. I'm a great place for you to tell your story and let your visitors know a little more about you.