SÀI GÒN GIẢI PHÓNG TÔI

Nguyễn Quang Lập 

Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kì chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm.

Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”.

Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “ triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời kì diệu.

Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.

Tối hôm đó thằng Mình bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ dành cho các du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.

Thằng Minh khoe cái cassette ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassette là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassette của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thất vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à? Thằng Mình tủm tỉm cười không nói gì, nó mở casette, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca 7. Kết thúc Sơn ca 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!

Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.

Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.

Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy dành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí.

Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có.. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu đần. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.

Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Capstan (cho anh phát súng tim anh nát/nhưng anh tin số phận anh còn), tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.

Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nôi chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác – Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác – Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn.

Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.

Nguồn: Nguyễn Quang Lập

Hồi-ký của Bà Ngô Đình Nhu

   Nguyễn Vy Khanh

Ở hải-ngoại, từ giữa thập niên 1980, từ sau cuốn hồi-ký của ông Đỗ Mậu, các hồi-ký về cái chết của Việt-Nam Cộng-Hòa, về cái chết của Đệ nhất cộng hòa và anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm, về cuộc chiến chấm dứt ngày 30-4-1975 ở miền Nam, ... đua nhau xuất-bản, tái-bản. Sử liệu thì cũng có dù giả-chân đầy ra đó, nhưng không thiếu những lời tự biện hộ hoặc tự đề cao cá nhân và phe nhóm; toàn là lời chót lưỡi của những con người khi có quyền lực đã không làm gì hoặc đã nhúng tay vô chàm hay đồng lõa, nay đánh bóng lại cái sai lầm, cái đồng lõa một thời, và nếu có thủ phạm thì toàn là người đã chết không còn tự biện hộ hoặc phản pháo lại “đồng đội” được nữa! Và mỗi năm đến ngày 2 tháng 11, người ta lại tổ chức tưởng niệm người đã chết, chạy theo khí tiết người bị giết, đăng đàn diễn thuyết, ra sách, viết báo về những chuyện tưởng chưa bao giờ nghe nhưng thực ra đã nghe đâu đó rồi! Năm nay là đã 50 năm sau ngày đảo chánh 1-11-1963, công tội đã rõ, nhưng người ta vẫn chưa thỏa mãn, đặc-biệt người ta mong đợi cuốn Hồi-ký của Bà Ngô Đình Nhu từ nhiều năm qua – mong đợi có thể vì tò mò và sẵn sàng “phản pháo, đính chính, chụp mũ” hơn là vì muốn biết Bà Ngô Đình Nhu nghĩ gì về những biến cố bi thảm đã xảy ra cho đất nước và cho riêng gia-đình bà và chồng bà.

Và cuối cùng, sau gần 47 năm im hơi lặng tiếng, bà viết xong tập hồi-ký ngày 22-8-2010 tại nhà riêng (Tịnh-Quang-Lâu) ở ngoại ô Rome nước Ý, do sự thôi thúc của cô gái út Lệ Quyên và con rể Olindo Borsoi (mà bà xem là do Chúa sắp đặt vì bà đã muốn giữ im lặng, tr. 190), và 6 tháng sau, ngày 24-4-2011, bà qua đời tại bệnh viện ở La-Mã, tên thánh Maria (bà trở lại đạo Công-giáo sau khi lập gia-đình), thọ 87 tuổi, sau 48 năm sống lưu vong. Hôm 2-11-2013 vừa qua tại nhà thờ giáo xứ Việt-Nam ở Paris, nhân lễ tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu, thứ nam của ông bà Ngô Đình Nhu là ông Ngô Đình Quỳnh đã cho ra mắt quyển sách tiếng Pháp La République du Việt Nam et les Ngô-Đình ( Nền Cộng Hòa Việt Nam và Gia Đình Ngô-Đình) mà hơn một nửa là di-cảo hồi ký của mẹ ông. Ông đã cho biết lý do ra đời của quyển sách này như sau: “Cuốn sách được xuất bản hôm nay có một phần hồi ức của Mẹ tôi được ghi chép từ năm 1963. Đồng thời chúng tôi có ý muốn soi sáng một phần của lịch sử hãy còn mù mờ. Một số sai lầm về hình ảnh của hai anh em họ Ngô mà cả bên Tây Phương lẫn đảng Cộng sản Việt Nam đã lưu truyền. Từ quyển sách này chúng tôi muốn đem lại cái nhìn đúng đắn hơn, đồng thời có phần đóng góp của Mẹ tôi với nhãn quan có phần huyền bí của Bà. Thế thôi!». Chúng tôi được một tín hữu cùng giáo xứ với bà Nhu ở Paris gởi cho một bản; trong bài này chúng tôi chỉ ghi lại những điểm đặc-biệt hoặc ít được biết, hoặc theo cách nhìn và cắt nghĩa của bà Nhu, còn phần thần học tâm linh, sẽ để một dịp khác hoặc người khác trong ngành bàn đến.

Tập sách 246 trang nhưng phần hồi-ký do Bà Ngô Đình Nhu viết với tựa đề “Le Caillou blanc” (Viên Sỏi Trắng) được hơn 130 trang (tr. 109-241) kể cả phụ lục 3 bức thư viết tay chưa từng công bố của ông Ngô Đình Nhu viết gởi cho đồng môn Ecole des Chartes ở Paris (20-4-1956, Tết 1963 và 2-9-1963) nay vẫn được giữ ở Văn khố nhà trường này. Phần đầu do hai người con Ngô Đình Quỳnh, Ngô Đình Lệ-Quyên (tử nạn giao thông, 16-4-2012) và bà Jacqueline Willemetz dẫn nhập với tài liệu gia-đình về lịch-sử Việt-Nam từ sau ngày thành lập nền đệ nhất cộng hòa, ngày 26-10-1956, đến cuộc đảo chánh 1-11-1963 và sau đó.

Bà Ngô Ðình Nhu, tại một cuộc họp báo ở New York, trong chuyến thăm ba tuần tới Mỹ, ảnh chụp ngày 08 tháng 10 năm 1963. AFP PHOTO

Bà Ngô-Đình Nhu nhủ danh Trần Lệ Xuân, sinh năm 1924 tại Hà-Nội, thân phụ là Trần Văn Chương, con Tổng đốc Nam Định, mẹ là Thân Thị Nam-Trân - với bên ngoại, bà Nhu là cháu ngoại vua Đồng Khánh và là cháu họ vua Bảo Đại. Bà Nhu gọi ông Bùi Quang Chiêu là “ông bác” (anh cả của bà nội) bị Hồ Chí Minh ra lệnh giết một cách tàn ác giết hết cả nhà kể cả 6 người con mà đứa nhỏ nhất mới 6 tuổi; cả Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân cũng là anh em họ với thân phụ bà. Bà học Albert Sarrault, thi đậu tú tài Pháp. Năm 19 tuổi, bà kết hôn với ông Ngô Đình Nhu ở Hà-Nội ngày 30-4-1943, sau đó ông bà về sống ở Huế.

Không biết khi đặt tựa Viên Sỏi Trắng/Le Caillou blanc cho cuốn hồi-ký, bà muốn nói thân phận bà bị lịch-sử đối xử như vậy mà vẫn trắng trong, nhỏ bé, hay muốn tả nỗi lòng trơ như đá, bất nhẫn trước thời cuộc? Thật vậy, trong hơn nửa tập hồi-ký, bà nói đến chuyện tâm linh, những chuyện cao xa hơn chuyện thế tục thường tình, về sự hiện hữu của Thượng Đế và của con người. Mở đầu hồi-ký, bà Nhu ghi lại lời sách Khải Huyền “Ai có tai, thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh: Ai thắng, Ta sẽ ban cho man-na đã được giấu kỹ; Ta cũng sẽ ban cho nó một viên sỏi trắng, trên sỏi đó có khắc một tên mới; chẳng ai biết được tên ấy, ngoài kẻ lãnh nhận” (Apocalyse 2, 17). Và thêm lời Thánh Thư Luca : “Ai là người nhỏ nhất trong tất cả anh em, thì kẻ ấy là người lớn nhất” (Luc 9, 48).

Bà bắt đầu hồi-ký ở chương 1, “Lý lẽ của định mệnh” như sau: “Vào cuối cuộc đời tôi, sau nửa thế kỷ im lặng, và vì ý nghĩa đơn thuần của nhiệm vụ, tôi ghi lại những gì cần phải được biết. Đó là sự giải thoát cho tất cả. Không phải để thỏa mãn tò mò nào đó, nhưng để trả lại những gì mà định mệnh đã đòi hỏi “kẻ nhỏ nhất” của Thiên Chúa, vào thời điểm của kẻ đó. Tôi bắt đầu cuốn ký ức này, nếu tôi có thể viết xong được, cốt để làm cho người khác hiểu được những đòi hỏi của một chuỗi dài đời-sống đã được định sẵn trước, nhận ra rằng cuộc sống không bao giờ có hành động trái với ý muốn của mình, mà trái lại, luôn luôn như là phải như vậy” (tr. 112).

Như vậy, bà xem thân phận bà như viên sỏi trắng “nhỏ bé” mà định mệnh đã đặt vào thời đó, nơi đó. Từ suy nghĩ về cuộc đời mình, bà khám phá ra được Thiên Chúa một cách bất chợt và khủng khiếp. Cái gì thuộc về Tạo Hóa sẽ trả lại cho Tạo Hóa để thực hiện đầy đủ và tột cùng chương trình của con người. Định mệnh, đó là cắt nghĩa đơn giản của bà lúc này là lúc bà đã bắt đầu cảm nhận sống những ngày tháng cuối đời, và trước nay bà sống một cuộc sống mà bà không bao giờ nghi ngờ gì.

Bà ra đời do một bác sĩ người Pháp đỡ đẻ thay vì là một cô mụ người Việt, ông ta nắm 2 chân trẻ sơ sinh và đánh vào mông thật mạnh cho đến khi đừa bé khóc ré lên phản đối. Đó là khung cách bạo lực mà bà đến với cuộc đời này, đã vậy mẹ bà lại thất vọng vì bà là cô con gái thứ hai. Sau bà là một em trai sẽ khiến mẹ bà càng hất hủi bà - khi cha mẹ bà vào Sài-Gòn, đã để một mình bà lại cho bà nội nhưng sinh hoạt chung với người làm, khiến bà bị bệnh nặng. Được về sống lại với gia-đình, bà lớn lên trong tự tin một cách tự nhiên, dễ chấp nhận nhưng cũng sẵn sàng đối đầu với thực tại, ở trường cũng như trong gia-đình, nhưng bà không được yêu thương như chị và em trai, trở thành đứa trẻ không thể động đến (Intouchable). Khiến về sau bà biết lúc cần xuất hiện và lánh mặt khi không còn cần thiết, cho đến khi bà phải đối đầu với Tây phương, thực-dân và đế quốc, bà vốn dè dặt một cách đặc-biệt. Đối đầu đòi hỏi sự tôn trọng tha nhân, nhưng ở đời không phải lúc nào cũng vậy, bà thường rút lui, không muốn tấn công ra mặt, cuối cùng bà chịu sự bất cảm thông hoặc ác ý của kẻ kia.

Năm 17 tuổi, bà gặp ông quản thủ thư viện Ngô Đình Nhu, lần đầu khi đến thăm gia-đình bà vốn là chỗ thân giao từ kinh thành Huế. Hai người mến nhau từ việc ông Nhu đến mà cô Trần Lệ Xuân chưa chưng xong hoa vừa đi mua về theo lệnh mẹ; cô gái đẩy ông Nhu vào phòng đợi nhỏ và dặn chỉ được đi ra khi cô xong chậu hoa. Sau đó thì chàng tặng sách, nàng hồi thư – được chàng tặng cho danh hiệu “Bà De Sévigné” vì thư nào cũng dài hơi và linh hoạt. Chính ông Ngô Đình Diệm quyền huynh thế phụ (đã mất) đến xin hỏi cưới cô Xuân cho em mình. Sau ngày cưới, cô Xuân hài lòng thoát gia-đình, đưa theo bà vú, về nhà chồng ở Huế. Vai trò bà đã thay đổi, hết bị rẻ rúng như ở với cha mẹ, nhất là từ khi anh cả Ngô Đình Khôi và con trai nối dòng bị Việt-minh giết, con cái bà sẽ nối dõi tông đường. Bà vú xin thôi việc sau đó vì cảm thấy không thiết yếu trong khung cảnh sống mới, điều mà bà Nhu sau này tiếc nuối, nhất là thời gian bị Việt-minh bắt lên rừng và sống ở Đà-Lạt.

Bà cảm nhận rằng rừng núi Nam-Giao, một nơi thiêng liêng độc nhất ở Việt-Nam, tượng trưng cho sự đợi chờ Thần Thánh Vạn Năng không tên, của cả một dân-tộc, trãi qua nhiều tôn giáo. Bà đã du lịch nhiều nơi nhưng chỉ có Nam Giao là đã cho bà ấn tượng mãnh liệt rằng thần linh đã chúc phúc cho dân-tộc Việt. Bà không thể lường trước cuộc sống đầy bất trắc với chồng và gia-đình chồng, nhiều lúc bà trách chồng “dối” bà (không tiết lộ gì) khi làm chính-trị, bí mật. Ban đầu ông Nhu thường sang nhà các người anh để trò chuyện, đến bữa ăn ông bà sang nhà từ đường phía bên kia kinh An Cựu để dùng bữa. Một năm làm quen với Huế và đại gia-đình nhà chồng, thì bất hạnh xảy đến cho người anh cả Ngô Đình Khôi và con trai ngày 22-8-1944. Sau đó chồng bà biến mất, sợ rơi vào tình huống của ông anh cả và ông Ngô Đình Diệm, người anh thứ ba, cũng đã bị Việt-minh bắt trên xe lửa từ Sài-Gòn về Huế và đưa ra nhốt ở miền thượng-du Bắc Việt từ tháng 9-1945 đến 12-1946. Ông Diệm được thả ở Hà-Nội nhờ chồng bà đã gặp ông Hồ, vả lại họ Hồ bí không trả lời ông Diệm được tại sao lại giết anh cả và cháu của ông. Ông Nhu đã ra Hà-Nội lúc đó, ở nhà cha mẹ bà và không ai biết ông làm gì lúc đó (bà Nhu không hay biết gì, mà ông Nhu cũng không hề kể). 20 tuổi, một mình ở Huế dù có người làm, bà dần dà thấy chồng bà không những không bảo vệ bà mà còn là một mối nguy cơ đe dọa bà và tiểu gia-đình bà (tr. 135) – may mà bà còn có an ủi: ngày 27-8-1945, bà hạ sinh cô con gái đầu Lệ-Thủy.

Ông bà Trần Văn Chương cuối cùng bỏ Hà-Nội (villa bị tịch thu) vào ở Huế, ông Nhu cũng trở về Huế, nhưng cán bộ cộng-sản đến nhà tìm, bà Nhu đã khéo léo lần lữa bắt tên này chờ đến phải bỏ về và hẹn trở lại, nhưng đêm đó ông Nhu phải bỏ trốn, và bà Nhu không có tin tức chồng trong một thời-gian dài sau đó. Sau ngày 19-12-1946, chiến-tranh lại bùng nổ, bộ đội Việt-minh cưỡng bách gia-đình bà Nhu phải bỏ nhà cửa sơ tán khỏi thành phố Huế theo vào vùng họ kiểm soát, trãi qua suốt mùa Đông lạnh lẽo. Cuối cùng mẹ con bà được một linh-mục Dòng Chúa Cứu Thế đem thuyền đến giúp trốn về Nhà Dòng, ở nhà kho nơi ông Cẩn đang tạm trú, nhưng hôm sau bà ôm con 3 tuối theo xe vào Đà Nẵng và mua vé máy bay quân sự vào Sài-Gòn. Tạm trú ở nhà người chị, bà Nhu vô cùng ngạc nhiên gặp lại chồng bí mật ở nhà Dòng Chúa Cứu Thế. Sau đó ông bà lên sống ở Đà Lạt, ở nhà người chị của bà, theo bà là "thời gian hạnh phúc nhất", bà sinh thêm hai người con trai, Ngô Đình Trác 1947 và Ngô Đình Quỳnh 1952, và cuộc sống của gia-đình bà tại Đà Lạt tuy giản dị, trong khung cảnh hoang dã nhưng an ninh, lúc đầu xa rời chính trị. Nhưng rồi bà thừa nhận bà đã cô độc khi ở đây và viết: "Chồng tôi thường biến mất mà chẳng nhắn lại gì" (tr. 152).

Từ khi ông Ngô Đình Diệm, anh chồng bà, được cử làm Thủ tướng từ Pháp về nhận chức (7-7-1954), ông bà Nhu xuống Sài-Gòn để phụ tá. Ông bà Nhu và 3 con sống tạm nhiều nơi trước khi về ở trong Dinh Độc Lập. Ông Nhu làm báo Xã-Hộitòa soạn ngay trong căn nhà nhỏ hẹp. Trong lúc thủ đô Sài-Gòn tình hình chưa ổn định, phe Bình Xuyên và tay chân của Pháp liên tục quấy phá, bà Nhu đã thành công một việc ngoài sức tưởng tượng: nhân dịp tướng Nguyễn Văn Xuân mời ông bà Nhu ăn ở một nhà hàng trong Chợ Lớn, bà Nhu đã hỏi thẳng ông Xuân tại sao không cách chức tướng Nguyễn Văn Hinh tổng tư lệnh quân đội, ông Xuân đã thách thức bà Nhu tìm cho được 5 chữ ký thì ông sẽ thuận theo yêu cầu đó. Bà Nhu tình cờ gặp những người từ Bắc mới di cư vào, cùng họ vận động những người di cư kín đáo tụ tập rồi giơ cao biểu ngữ trước nhà thờ Chánh tòa Sài-Gòn ngày 21-9-1954. Dù cảnh sát Bình Xuyên được mật báo nên đã có mặt ở trại di cư trước với 2 xe tăng, bà lái chiếc xe hiệu Panhard đến và tra hỏi tại sao cảnh sát lại cấm cản người dân đi chợ. Đám cảnh sát bỏ đi, xong trở lại, bà lên xe rồ máy bỏ chạy đến trước nhà thờ nơi mà những người di cư đang chờ, và họ đã giương cao biểu ngữ ủng hộ kiến nghị của bà Nhu (đòi hỏi tướng Hinh phải từ chức). Hình ảnh và thông tin được gởi cho tờ báo tiếng Pháp duy nhất ở Sài-Gòn.

Ông Trần Chánh Thành bộ trưởng Thông tin đã kiểm duyệt không cho báo-chí VN đăng tin đó, nhưng báo tiếng Pháp đã đăng tải phổ biến thông tin và hình ảnh vụ biểu dương mà không được phép của chính phủ. Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng Quốc phòng Nguyễn Văn Xuân đã phải từ chức 3 ngày sau đó, trở thành “nạn nhân” đầu tiên của bà Nhu (tr. 165). Nội các Ngô Đình Diệm phải cải tổ, bà Nhu bị người Pháp với sự giúp đỡ của người Mỹ, ép đưa đi ra ngoại quốc 3 tháng để Nội các cải tổ được ổn định, và để bà Nhu không thể ra ứng cử dân biểu Quốc hội lập hiến và lập pháp sau đó. Nhưng vô ích, vì dù ở xa, bà sẽ vẫn đắc cử, với sự ủng hộ của tập thể người di cư. Bà sang Hoa-Thịnh-Đốn nơi ông thân bà làm đại sứ ở Hoa-Kỳ, ông đưa bà đến ăn sáng do thượng nghị sĩ J.F. Kennedy (về sau đắc cử Tổng thống) mời, sau đó bà ở lâu hơn ở tu viện nữ người Ý ở Hương-Cảng. Bà tận dụng thời-gian ở đó để học thêm tiếng Anh.

Bà Nhu trở về miền Nam và vào ở trong Dinh Độc Lập. Sau Trưng cầu dân ý 23-10-1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm trở thành Tổng thống, mở đầu cho nền Đệ nhất Cộng-hòa, và cử ông Ngô Đình Nhu chính thức làm Cố vấn chính-trị – với chức này, ông Nhu đề ra thuyết Nhân Vị đề cao tính siêu việt của con người, tức sự tái sinh bởi khả năng con người hành xử Đức độ như Thiên Chúa đã dạy (Mt. 19, 28). Theo bà Nhu, thực dân Pháp chưa buông tha, rút người về Cam Bốt, từ nơi đó tổ chức gây rối ở miền Nam.

Vụ tiếp theo là vụ ám sát Tổng thống Diệm ở Ban-Mê-Thuột, có liên quan đến Lê Văn Kim người của Pháp đào tạo và từng là tùy viên của Thierry d'Argenlieu, đang là chỉ huy Trường Võ bị Đà-Lạt. Rồi đến vụ đảo chánh 11-11-1960 và vai trò của tướng Nguyễn Khánh từng là tùy viên của thủ tướng Nguyễn Văn Xuân và từng tổ chức những buổi pique-nique ở Đà Lạt có bà Nhu và Bảo Đại, Nguyễn Khánh xưng là đại diện cho nhóm đảo chánh. Bà Nhu tin là do Pháp giật dây. Bà Nhu đã can thiệp khi thấy tướng Khánh dùng thủ đoạn đánh điểm yếu của Tổng thống Diệm là thương người và sợ đổ máu. Bà Nhu hối chồng hất cẳng tướng Khánh và kêu gọi quân lính trung thành về chiếm lại đài phát thanh. Tướng Khánh do đó bị đám đảo chánh kết tội phản bội, nhưng đã thua nên phần lớn bỏ trốn sang Nam Vang. Đại diện CIA gặp anh em Tổng thống Diệm cam đoan là Hoa-Kỳ đã đứng ngoài vụ đảo chánh, bà Nhu có mặt ở đó đã trách móc người Mỹ “Tôi không mong chờ các ông đồng minh, tức là bạn, giữ trung lập trong vụ này!”.

Thái độ của bà Nhu gây chú ý của Hoa-Thịnh-Đốn. Vụ tiếp theo là chuyến viếng thăm Việt-Nam của Phó tổng thống Lyndon B. Jonhson ngày 12-5-1961. PTT Mỹ xuống máy bay, bất chấp nghi thức ngoại giao, thay vì đến chào PTT Nguyễn Ngọc Thơ trước, ông đã đến thẳng bà Nhu, khiến ông Thơ phải chạy theo sau lưng ông PTT Mỹ. Trong buổi điểm tâm sau đó do PTT Thơ mời, có cả ngoại giao đoàn và các dân biểu, ông PTT Johnson thêm một lần gây bối rối khi mời bà Nhu sang thăm trang trại của ông ở Texas mà bà Nhu lại từ chối với lý là chưa có dự tính đó. Vô tình bà Nhu nói dí dỏm sẽ sang thăm nếu ông PTT trở thành Tổng thống. Không ngờ lời nói đó khích động PTT Mỹ, ông kéo bà Nhu ra bao lơn nhưng vô tình sức mạnh kéo tay bà Nhu lại kéo luôn phu nhân Chủ tịch Quốc hội, ông nhìn thấy hớ hênh bèn chữa thẹn rằng muốn bà Nhu giới thiệu thắng cảnh Sài-Gòn từ bao-lơn. Không ngờ lời nói cho qua chuyện lại thành sự thật hơn 2 năm sau đó. Năm 1964, ông Ngô Đình Cẩn - thành viên cuối cùng của dòng họ Ngô Đình còn ở Việt-Nam, bị xử tử sau khi đã xin tị nạn chính-trị với lãnh sự Hoa-Kỳ ở Huế lại bị giao cho nhóm đảo chánh dựng tòa án kêu án tử hình. Bà Nhu đã viết thư yêu cầu TT Johnson can thiệp, nhưng ông đã tỏ ra “hèn hạ” (tr. 177)

- Bà Nhu từng khen ông Cẩn phụ trách cả miền Trung khiến nơi đó yên bình mà không tốn kém gì cho chính quyền Sài-Gòn (tr. 182). Trước đó, vào mùa Thu 1963 khi sang Hoa-Kỳ “giải độc”, bà Nhu đã nhận lời mời đến thăm trang trại của hàng xóm của Johnson, Johnson đã không có hành động gì và trong 1 lá thư duy nhất trả lời thư bà Nhu hỏi tại sao ông ta có vẻ sợ bà, ông viết ”Làm sao tôi có thể sợ một phụ nữ tuyệt vời như bà?”. Lá thư này về sau bà gởi lại một người bạn đồng môn của ông Nhu ở Paris nhờ giữ khi bà Nhu dọn về Rome, đã bị một người đánh tiếng với con trai trưởng của bà Nhu là sắp chết nên muốn nhìn thấy nó trước khi chết, nhưng lá thư không bao giờ trở lại - về sau bà Nhu mới biết người này làm cho tình báo Pháp.

Đắc cử dân-biểu, đến năm 1958, bà đề nghị Luật Gia-Đình có mục-đích giải phóng phụ nữ về mặt pháp lý (một vợ một chồng, nam nữ bình quyền cả trong quản trị, sử-dụng và phân chia gia sản, thừa kế di sản, v.v.), đã bị đa số vẫn còn tinh thần gia trưởng, gia tộc hoặc đa thê, phản đối; dù Hiến pháp 26-10-1956 đã nêu cao nam nữ bình quyền nhưng trong thực tế, người phụ nữ vẫn phải phục-tùng chồng là người vẫn được xã-hội xem là giám-hộ. Bà tổ chức Phong trào Phụ nữ Liên đới (với hình biểu tượng Ngọn đèn dầu của những cô trinh nữ trong Thánh Kinh) kêu gọi và giúp đỡ người phụ nữ ra đời làm việc xã-hội, thiện nguyện. Bà Nhu kêu gọi tinh thần tái dựng lòng yêu nước. Cùng lúc, bà tổ chức lực lượng Phụ nữ bán quân sự (10-1961) tự nguyện, được huấn luyện tự vệ, sử-dụng vũ khí và y tế thường thức. Trưởng nữ Lệ Thủy cũng gia nhập lực lượng này từ khi 16 tuổi.

Sáng sớm ngày 27-2-1962, thêm một vụ chính biến do 2 phi công bắn phá Dinh Tổng thống. Con cái bà bị thương và bà phải vào bệnh viện vì muốn cứu con với bà vú của cô út Lệ Quyên. Biến cố khiến bà thêm ghê tởm bọn thực dân (tr. 180) - bà ghi rõ vụ bắn phá Dinh Tổng thống là do thực dân (“colon”), sau đó là căn nhà từ đường bằng gỗ của gia-đình Ngô Đình ở Huế cũng bị phá hủy, do “la rage francaise contre le Việt-Nam que nous représentions...”(tr. 181).

Xảy ra vụ Phật giáo, bà Nhu muốn có đại diện các đảng phái và các nhóm xã-hội trong Ủy Ban Liên Phái, nhưng Tổng thống Diệm không thuận vì không muốn có bà. Nhưng khi xong Thông cáo chung và bên Phật giáo đã ký, ông Nhu lại hỏi ý kiến bà trước khi cố vấn Tổng thống ký. Bà thấy lạ vì các đòi hỏi của Phật giáo đều là những thứ chưa bao giờ cấm, bà đề nghị ký nhưng ghi tay thêm mấy chữ là những đòi hỏi trong đây chưa bao giờ cấm. Ông Cố vấn đem Thông cáo chung đến buổi họp sau đó và nói lại ý vừa kể, ngoại trưởng Phật giáo Vũ Văn Mẫu yên lặng không nói gì, nhưng Phó Tổng thống Thơ phát biểu: ”Họ uống trà sâm còn mình uống trà thường khiến mình thành người ngu”. Vì câu nói này mà ông Mẫu cạo đầu từ chức. Theo bà Nhu cũng ông VV Mẫu này đến cận ngày 30-4-1975 nghe lời thực dânủng hộ và theo tướng Big Minh (lực lượng thứ 3), nhưng đế quốc mạnh hơn muốn chấm chấm dứt chiến-tranh (tr. 188)!

Trước ngày đảo chánh, từ ngày 12-9-1963, bà Nhu và cô trưởng nữ Ngô-Đình Lệ-Thủy lên đường đi “giải độc” ở Âu châu và Hoa-Kỳ; trước khi xảy ra vụ ám sát anh em Tổng thống, bà và con gái được đông đảo cảnh sát bảo vệ, nhưng sau đó thì bị bỏ rơi, may có một gia-đình người Mỹ do 1 linh-mục giới thiệu, đã giúp đỡ mẹ con bà cho đến khi rời nước Mỹ đi Rome. Phần ông Cô vấn Ngô Đình Nhu, vài ngày trước đảo chánh đã gọi cậu Ngô Đình Trác đưa 2 em lên Đà-Lạt và dặn dò khi có biến hoặc ông Nhu chết, thì phải đưa 2 em trốn vào rừng. Khi xảy ra tiếng súng đảo chánh, các cô cậu đã chạy trốn vào rừng phía sau nhà, trãi qua một đêm trong mưa lạnh. Cả ngày hôm sau đi xuyên qua sông rạch để tránh để lại dấu vết, và cuối cùng đến một nơi trực thăng có thể đáp và chờ đợi. Chỉ trong vòng ba ngày, mấy đứa trẻ đã thoát khỏi sự nguy hại và tới được Rome trước khi mẹ và chị cũng đến đó.

Ngày 15-11-1963, bà và con gái rời Los Angeles để đi Roma sinh sống. Bị đế quốc bỏ rơi, nhưng ở phi trường đầy phóng viên báo-chí và truyền hình. Rồi lúc ghé Paris, bà cũng được đông đảo báo-chí phóng viên đón như vậy, ông đại sứ Mỹ ở Paris bí không biết phải trả lời báo-chí ra sao bèn nói “Chúng tôi có làm gì thì cũng vẫn bị nguyền rủa!”. Nhưng ít có nhà báo nào dám nói lên hết sự thật, bà Nhu được ông nhà báo Georged Mazoyer dám bênh phía bà, nhưng ông ta vừa được thăng chức giám đốc một nhật báo ở Paris ra ban chiều thì liền bị xe đụng chết khi đi bộ. Bà Nhu thấy những ai đứng về phía bà đều bị biến mất (tr. 189-190): kế đó là bà Suzanne Labin và Marguerite Higgins (3-1-1966) – được Tổng thống Kennedy gửi sang Việt-Nam điều tra riêng, bà là tác-giả cuốn Our Việt-Nam Nightmare (1965), trong đó bà cho rằng biến cố Phật giáo chỉ là một trò đánh lừa (leurre), mục-đích không vì Phật giáo mà vì muốn lấy đầu ông Diệm và thay vì bỏ lên mâm bạc như Thánh Jean-Baptiste tử đạo, thì nay phải quấn cờ Mỹ; và bà nhận xét các sư sãi rất rành tên các phóng viên ngoại quốc, gọi họ bằng tên/prénom!

Vào tháng 6 năm 1964, hiệp hội báo chí Hoa-Kỳ tổ chức mời bà Nhu và con gái Lệ Thủy sang Mỹ làm một vòng để các cơ quan thông tin báo-chí tìm hiểu sự thật (Truth Rally) về thực trạng Việt-Nam vì các cơ quan này không tin giải thích của Hoa-Thịnh-Đốn (tr. 71). Lúc đó nước Mỹ chuẩn bị bầu cử Tổng thống thay thế T.T. Kennedy, chính phủ Mỹ đã từ chối cấp visa cho 2 mẹ con bà Nhu lấy “lý do an ninh quốc-gia“. Ngày 9-5-1975, khi trả lời phỏng vấn của đài truyền hình, bà Nhu đã tố cáo chính quyền Kennedy can thiệp vào Nam Việt Nam là "nhằm tạo thanh thế và sự ủng hộ cho Đảng Dân chủ Hoa Kỳ". Bà cũng bình luận cảnh đại sứ Mỹ Martin chờ trực thăng tới đón trên nóc nhà, cờ Mỹ cuộn dưới nách: “Cường quốc Mỹ dùng để làm gì, nếu không phải là để phải trốn chạy theo họ?”.

Năm 1985 khi báo-chí Hoa-Kỳ làm kiểm điểm 10 năm Hà-Nội chiếm miền Nam, bà Nhu đã nhận trả lời phỏng vấn cho Newsweek, nhưng các cơ quan thông tin này đồng lõa với nhau để không ai liên lạc được với bà (tr. 71). Bà sống lúc tại vùng Riviera nước Pháp, lúc ở nhà bên Roma, bà trả lời phỏng vấn một lần khác để lấy tiền và vé máy bay khứ hồi cho con gái út qua thăm ông bà ngoại ở Mỹ. Bà Monique Brinson Demery phỏng vấn bà Nhu năm 2005 đánh dấu lần đầu tiên bà trả lời báo chí phương Tây sau một thời-gian khá lâu, phỏng vấn để thực hiện cuốn sách về bà Nhu, Finding the Dragon Lady: The Mystery of Vietnam's Madame Nhu (New York : Public Affairs, 2013), nội-dung cuốn sách cho thấy bà Nhu đã nói chuyện với bà Demery với nội-dung cuốn hồi-ký.

Suốt tập hồi-ký, bà Nhu cho người đọc thấy và hiểu rằng bà căm ghét thực dân Phápvà đế quốc Hoa-Kỳ(bà gọi chung là “Occident criminel”). Bà có thắc mắc là ngoài Thánh lễ khai mạc Cộng đồng Vatican II ngày 2-12-1963 có nhắc ý lễ cầu cho anh em Tổng thống Diệm, Tòa thánh Vatican đã không lên tiếng và không làm gì về cái chết của anh em chồng bà (và người mà Tòa thánh giới thiệu giúp làm giấy tờ cho căn nhà mà Đức Cha Thục mua cho mẹ con bà ở Roma lại lừa dối cướp hết tiền gia-đình bà). Bà kể có thể đã góp phần (qua một phỏng vấn ngay trước đó) trong việc khiến cho Hà-Nội đã phải để cho Đức Cha Nguyễn Văn Thuận, cháu của ông Nhu, ra ngoại quốc chữa bệnh và thoát cộng-sản; và hơi trách móc Ngài đã không làm gì cho những cái chết của chồng và các anh em chồng bà.

Bà cho rằng sau ngày 2-11-1963 anh em Tổng thống bị giết, nước Việt-Nam rơi vào địa ngục là do các đế quốc thực dân và cộng-sản(tr. 201). Bà thêm, cái chết của Lệ Thủy con gái bà vẫn chưa được điều tra đến cùng! Về phần người Pháp, bà gọi là “tên thực dân” (colon) và so sánh với quỷ Satan khi dùng lời Chúa Jesus cảnh báo Thánh Phê-Rô: “Satan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của con người” (Mt 16, 23) – vì thực dân đã lợi dụng danh nghĩa của Giáo Hội để làm chuyện Ác đã khá lâu rồi ở Việt-Nam. Bà Nhu cho người đọc hiểu rằng bao nhiêu biến cố, đảo chánh, ám sát, v.v. thời Việt-Nam Cộng-Hòa đều là do bàn tay của thực dân và đế quốc chủ động hết, do đó bà không nói nhiều đến những tay sai người Việt của chúng. Bà cho rằng với những gì bà viết ra, chỉ có đám thực dân là phải tự vấn lương tâm (tr. 190)!

Cuối cùng là những suy niệm tâm linh cuối đời của bà; bà tạ ơn Chúa đã đoái nhìn con chiên Việt-Nam qua việc đức Hồng Y tân cử của Hoa-Kỳ đã đến La-Vang ngày 21-8-2009 dâng lời cầu nguyện “Đức Mẹ La-Vang cũng là Đức Mẹ của quốc-gia Hoa-Kỳ và của Giáo Hội Công-giáo“. Và bà cảm ơn và hiểu Chúa đã trao phó cho bà trọng trách làm mẹ và bà đã làm hết mình cho đến cuối đời!

Trong Phần Phụ lục, trong lá thư đề ngày 2-9-1963, 2 tháng trước ngày bị giết, ông Ngô Đình Nhu trình bày lập trường Việt-Nam chính-thực của chính phủ của Tổng thống anh ông (Việt-Nam của người Việt Nam!) trước âm mưu của Hoa-Kỳ đi chung với Liên Xô cộng-sản, âm mưu đưa đến phương-tiện thôi miên, tuyên truyền, huyền-hoặc các sư sãi rồi đẩy những kẻ này vào lửa thiêu sau khi báo cho thông tín viên quốc tế biết để đến quay phim, chụp hình (và cản cứu người “tự thiêu”!) (1). Từ ngày ra thiết quân luật 20-8-1963 thì hết còn tự thiêu, nhưng 2 thế lực kia lại xúi sinh viên học sinh xuống đường như đã làm ở Đại Hàn và Thổ-nhĩ-kỳ, nhưng ông Nhu cho là thất bại vì chính quyền bắt đi học quân sự và tẩy não chúng. Ông Nhu biết 2 thế lực đó chưa ngừng tay vì phải biện minh với cấp trên về việc chi 20 triệu đô Mỹ (2) cho âm mưu này!

Chú thích:
1- Sau ngày đảo chánh 1-11-1963, còn có 6 vụ tự thiêu Phật tử khác, nhưng không báo chí Tây phương nào để ý đến nữa! Và sau ngày 30-4-1975, đã có biết bao nhiêu kỳ thị, kiểm soát, khủng bố tôn giáo và toàn dân, tù đày, cướp của dân,... nhưng thượng tọa Trí Quang không có hành động nào, trở thành câm, lặng, đồng lõa với cộng-sản Hà-Nội! Còn vụPhái đoàn Liên Hiệp Quốc đến VN điều tra về vụ gọi là «đàn áp Phật giáo», Báo cáo được dịch ra Việt ngữ - Vi Phạm Nhân Quyền Tại Miền Nam Việt-Nam, do Võ Đình Cường dịch, 1 nhóm Phật giáo xuất-bản năm 1966, từ tay Thích Trí Quang người đề tựa, nhưng đã bỏ đi phần kết luận (1 thứ lừa dư luận từ cái thật, lộng giả thành như ... thật!). Đây là Báo cáo 234 trang trình ngày 7-12-1963 của Phái đoàn với kết luận không có đàn áp lẫn kỳ thị tôn giáo, và những đụng độ với chính quyền chỉ là do 1 nhóm nhỏ, và có tính cách chính-trị, không phải tôn giáo. Bản báo cáo bị giấu kín, đến tháng 2-1964, văn bản này đã được Thượng Viện Hoa-Kỳ xuất-bản.

2- Ông Nhu tiên đoán đúng, tiếp đó là chi tiền mua chuộc mấy ông tướng Việt-Nam làm đảo chánh và giết anh em ông ngày 2-11-1963 và sau đó là ông Cẩn, người em khác! Lou Conein đưa 3 triệu đồng tương đương 42 ngàn đô la Mỹ cho nhóm tướng lãnh đảo chánh để chia chác cho nhau, thật ra chỉ là những đồng bạc lẽ từ 20 triệu đô!

Nguyễn Vy Khanh
Montreal, 11-2013

Một Nụ Cười

Bửu Uyển

Vào dịp cuối năm 1984, một buổi họp mặt các cựu tù nhân chính trị được tổ chức ở San Diego. Xướng ngôn viên của buổi lễ cho biết : “Khi tôi xướng tên trại nào, nếu quý anh là trại viên của trại đó, xin đứng dậy và tự giới thiệu tên của mình để các anh em khác được biết”. Nhiều trại cải tạo ở miền Bắc được lần lượt xướng tên như “Phong Quang”, “Yên Báy”, “Vĩnh Phú”, “Thanh Cẩm”, “Lý Bá Sơ”, “Nam Hà”, “Phú Sơn” v.v Trại nào cũng có năm bảy anh đứng dậy và giới thiệu tên của mình. Khi xướng tên trại Nam Hà, tôi đứng dậy và có thêm bốn anh nữa , trong đó có một anh, tự giới thiệu tên của mình là Lê Trung Đạo. Tôi lẫm nhẫm Lê Trung Đạo, Lê Trung Đạo…sao tên nghe quen quá, hình như anh ấy ở chung đội với tôi thì phải. Khi phần giới thiệu các anh em trại Nam Hà chấm dứt, tôi đi đến bàn của anh Đạo, đứng đối diện và nhìn kỹ anh ấy. Tôi nhận ra anh Đạo ngay. Tôi ôm chầm lấy anh, và anh ấy cũng ôm tôi trìu mến. Tôi thì thầm bên tai Đạo : “Em còn nhớ anh không? ” Đạo trả lời ngay: “Anh Uyển, mà sao em có thể quên được, thật vui mừng được gặp lại anh. Em trông chờ ngày này đã lâu lắm rồi!”
Khi cùng sống trong cảnh đọa đày nơi trại Nam Hà, phân trại C, tôi và Đạo nằm gần nhau. Ra đồng, bắt được con cua, con cá, tôi và Đạo cùng chia sẻ với nhau. Đạo là một Thiếu Úy Cảnh Sát Đặc Biệt, mới ra trường, không biết làm Trưởng G hay H gì đó..mà bị đày ra cải tạo ở miền Bắc.Anh còn quá trẻ, khoảng 24, 25 tuổi. Tôi xem anh như một người em của tôi và tôi rất quý mến anh. Đạo chưa lập gia đình. Anh chỉ còn một mẹ già đang sống ở Vĩnh long. Vì vậy, từ ngày bị đưa ra Bắc, Đạo chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân từ trong Nam gởi cho anh. Anh sống hiền hòa, vui tính, nên anh em trong đội ai cũng mến anh. Đạo xem tôi như một người anh trong gia đình, anh tâm sự với tôi : “Đời em chẳng còn gì nữa, chỉ có một người mẹ, mà từ ngày bị đày ra Bắc, đã trên 5 năm rồi em chẳng có tin tức gì của mẹ em. Không biết bà còn sống hay đã ra người thiên cổ”

Đạo nắm tay tôi và cảm động nói: “Giờ đây em chỉ có anh là người duy nhất thương mến em, cho em chút an ủi để sống qua ngày!”
Như có một động lực nào thúc đẩy, Đạo tâm sự với tôi : “Anh ạ,mình phải sống chứ anh, mà muốn sống, dù là cuộc sống thấp nhất, cũng phải có một ước mơ gì đó để mà mộng tưởng, để tiếp sức cho mình. Các anh em ở đây , dĩ nhiên ai cũng mơ ước sớm được trở về với gia đình. Ngoài xã hội thì kẻ này mơ trúng số, kẻ kia mơ nhà cửa , ruộng vườn v.v. Nhưng sống nơi địa ngục trần gian này, anh em mình mơ ước điều gì đây? Tất cả đều nằm ngoài tầm tay của mình. Em chợt nhớ lại một câu chuyện cổ tích của Pháp, tựa đề là “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide” kể lại câu chuyện một ông lão nghèo khổ, sống cô đơn một mình trong căn lều nhỏ bé, trống trước, trống sau. Bổng một bà tiên hiện ra và cho ông một điều ước. Bà tiên cứ nghĩ, thế nào ông lão nghèo nàn này cũng sẽ ao ước có một căn nhà, hoặc ao ước có nhiều tiền bạc..v..v. Nhưng bà tiên vô cùng ngạc nhiên, khi ông lão nghèo khổ ấy chỉ xin “Một Nụ Cười”

Đạo như chợt tỉnh, ông lảo bất hạnh trong câu chuyện cổ tích, đã chỉ cho Đạo một mơ ước, mà dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể đạt được, đó là một nụ cười. Không cần phải là nụ cười của giai nhân, mà chỉ cần một nụ cười thân ái của ai đó, chân thành trao cho anh, vì yêu mến anh, có thế thôi.
Cuộc sống tù đày cứ kéo dài triền miên trong đói khổ, vô vọng. Nhưng khi nghĩ đến một nụ cười, Đạo thấy tâm hồn mình có chút an ủi, nhẹ nhàng. Hằng ngày , Đạo ước mơ nhận được nụ cười. Đêm đêm Đạo cũng ước mong trong giấc mơ, anh sẽ gặp được một nụ cười. Nhưng buồn thay, những giấc mơ đến với Đạo chỉ là những cơn ác mộng mà thôi.
Nhưng thật kỳ diệu, từ ngày Đạo ôm ấp ước mơ có được một nụ cười, anh thấy cuộc đời của anh có chút ý nghĩa, vì dù sao anh cũng có một ước mơ, để mà thương, mà nhớ, mà mong chờ.
Một hôm, đội được dẫn đi gặt lúa, khi đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo thấy nhiều chiếc áo vàng đứng ở đó. Nhìn lướt qua, Đạo chợt thấy một nữ cán bộ nhìn anh mỉm cười. Anh không tin ở mắt mình, anh nghĩ rằng có thể cô ta cười vu vơ gì đó, chứ đâu phải cười với anh. Anh quay lại nhìn một lần nữa, vẫn thấy cô ta nhìn anh và mỉm cười.
Từ ngày ấy, mỗi khi đội đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo đều bắt gặp nụ cười của người nữ cán bộ dành cho anh. Vì vậy khi đi lao động, Đạo luôn luôn đi cuối hàng để dễ đón nhận nụ cười của cô nữ cán bộ. Đạo cũng cười đáp lễ với cô ta. Đạo bắt đầu thấy cuộc đời của mình, có một chút gì thi vị, đáng sống. Khi ăn, khi ngủ, nụ cười đó luôn luôn theo anh, cho anh niềm an ủi, và chút lạc quan để sống. Anh em trong đội đều biết mối tình mắt nhìn mắt và trao đổi nụ cười của Đạo và cô nữ cán bộ.
Không những Đạo nhớ đến nụ cười, anh còn nhớ đến đôi mắt như muốn nói với anh muôn ngàn lời, anh nhớ đến người con gái ấy. Ban đầu anh nghĩ rằng cứ giã bộ vui vẻ cho qua ngày. Nhưng trong tâm trí anh, luôn luôn nhớ đến cô gái ấy và anh nhận ra rằng anh đã yêu cô ta. Đạo nhớ lại ngày xưa Elvis Presley đã hát một bài hát nỗi tiếng là bài Don’t Gamble With Love nay thật đúng như trường hợp của Đạo. Bây giờ Đạo không còn cho rằng lao động là khổ sai nữa, mà anh trông chờ mỗi buổi sáng được đi ngang qua cỗng cơ quan, để đón nhận nụ cười của người nữ cán bộ.
Một buổi chiều khi đi lao động về,nghe các anh em Công Giáo tập hát bài “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, Đạo mới biết, đêm nay là đêm Noel. Khi cửa phòng giam đóng lại, anh em Công Giáo vội vã thiết trí một ngôi sao Giáng Sinh và hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh” ở vách tường cuối phòng. Họ nắm tay nhau ca hát, đọc kinh, cầu nguyện. Đạo nằm mơ màng, lơ đãng nhìn về cuối phòng, chung quanh hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh”, Đạo tưởng tượng như có những bóng đèn màu chớp sáng. Anh mơ hồ nghe như có tiếng nhạc bài Silent Night dịu dàng thoảng đi trong gió…Anh thiếp đi trong giấc ngủ yên lành.
Vào một buổi sáng chúa nhật, chúng tôi được gọi ra sân để nhận quà của thân nhân từ trong Nam gởi ra. Thường thì 80 đến 90 phần trăm anh em đều nhận được quà. Riêng Đạo thì chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân. Nhưng thật bất ngờ, hôm nay cán bộ lại kêu tên Đạo lên nhận quà, ai cũng ngạc nhiên và mừng cho Đạo. Anh nhận một gói quà bình thường, nhưng cách gói quà, khác với những gói quà từ trong Nam gởi ra. Đạo sững sốt nhận gói quà, đem về phòng, cẩn thận mở ra. Một mãnh giấy nhỏ nằm trên những gói đồ ăn, anh đọc vội hàng chữ “Trìu mến gửi anh Đạo – Em : Kim Chi”. Với mấy chữ ngắn gọn đó, Đạo biết ai gởi cho anh món quà tình nghĩa này. Anh ôm gói quà vào lòng. Anh không ngờ người nữ cán bộ có nụ cười dễ thương đó, lại dám liều lĩnh gởi quà cho anh. Hai hàng nuớc mắt chảy dài xuống má, đây là những giọt nước mắt hạnh phúc mà từ lâu anh không hề có.
Trại Nam hà, Phân trại C, nơi chúng tôi đang ở, phía sau là con đường làng. Trại chỉ ngăn cách với bên ngoài bởi những bụi tre thấp và hàng rào kẽm gai. Dân chúng đi ở ngoài, chúng tôi có thể thấy họ. Thường vào buổi chiều, sau khi ăn cơm xong , chúng tôi hay ra ngồi chơi ở sân sau đó, nhìn người qua lại. Một hôm, chúng tôi thấy cô cán bộ Chi đi lui, đi tới ở ngoài hàng rào, rồi thình lình quăng vào trong một cái gói nhỏ. Chúng tôi biết cô ấy gởi gì đó cho Đạo, chúng tôi mang vào cho anh. Đạo không biết Chi gởi gì cho anh, nhưng anh cảm động lắm. Anh em hiếu kỳ đứng quanh giường của của Đạo, để xem cô Chi đã gởi gì cho anh: đó là một gói xôi và một con gà vàng rộm. Đối với tù nhân, đói triền miên như chúng tôi, thì gói xôi gà này là cao lương mỹ vị bậc nhất trên thế gian này. Đạo rất hào phóng, anh chia đều xôi, gà cho tất cả 32 anh em trong đội, mỗi người được một muỗng xôi và chút ít thịt gà. Có người ăn ngay, nhưng cũng có vài anh em để đó, hít hít mùi thịt gà cho đỡ thèm.
Đạo thấy thương Chi quá, vì yêu anh, nàng đã gan liều làm những việc như vậy, vì nếu bị phát giác, nàng ở tù như chơi. Đạo càng thương Chi khi nghĩ đến tương lai : một cán bộ công an yêu một sĩ quan cảnh sát ngụy..thì đời nào có thể sum họp được. Anh thở dài !
Vào một sáng chúa nhật, một anh trật tự đến phòng chúng tôi, bảo anh Đạo chuẩn bị ra có người thăm nuôi. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì từ bao năm nay, Đạo thuộc diện con mồ côi, chưa hề có ai gởi quà cho Đạo, nói gì đến chuyện thăm nuôi.Thế mà hôm nay, lại có người thân nào đó đến thăm Đạo. Chúng tôi mừng cho Đạo. Khoảng 9 giờ sáng, anh được cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. Chúng tôi hồi hộp chờ Đạo trở vào để xem anh nhận được những quà gì của thân nhân đem đến.
Nhưng chúng tôi chờ mãi…đã ba , bốn giờ chiều rồi, vẫn chưa thấy Đạo trở vô trại. Thường một trại viên được gặp mặt thân nhân khoảng 15, 20 phút, tối đa là nửa giờ. Thế mà , Đạo ra nhà thăm nuôi đã hơn bốn, năm tiếng rồi mà chưa thấy vô. Chúng tôi bắt đầu lo lắng cho Đạo, không biết chuyện gì đã xảy ra cho anh, lành hay dữ. Và từ đó, chúng tôi không còn biết tin tức gì về Đạo nữa.
Hôm nay gặp lại Đạo, tôi đem chuyện ấy ra hỏi Đạo, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây:
“ Anh nhớ không, ngaỳ chúa nhật hôm đó, em được dẫn ra nhà thăm nuôi, nói là có thân nhân đến thăm. Em vô cùng ngạc nhiên vì em đâu có thân nhân nào từ trong Nam có thể ra thăm em. Bước vào nhà thăm nuôi, em thấy Chi và một ông Thượng Tá công an ngồi ở đó.Chi vội vã đứng lên giới thiệu : “Đây là cậu Du của Chi, đang công tác ở tỉnh Thái Bình, em nhờ cậu ấy đến thăm anh.” Đạo bối rối nhìn Chi, nhìn ánh mắt, nụ cười của Chi. Chi mặc đồ công an, trên cổ áo có đeo quân hàm Thiếu Úy. Chi biết Đạo ngõ ngàng, thắc mắc nên cô nói ngay : “Anh đừng lo, em bảo anh làm gì thì cứ làm theo, chớ có hỏi han gì hết”. Chi dẫn Đạo vào một căn nhà ở gần nhà thăm nuôi, nhà không có ai cả.. Chi bảo tôi cởi bộ áo quần tù ra, và mặc ngay bộ đồ công an đã để sẵn ở đó; ngoài áo quần, có cả nón, cặp da và giấy chứng nhận đi công tác miền Nam. Tôi như trên trời rớt xuống, nhưng không có thì giờ để hỏi Chi, việc gì đang xảy đến cho tôi. Khi tôi đã mặc xong bộ đồ công an, Chi nhìn tôi mỉm cươì , rồi kéo tôi ra ngỏ, bảo tôi leo lên một chiếc xe Jeep nhà binh đậu sẵn ở đó., và chạy ra ga xe lửa Phủ Lý. Chi bảo tôi cứ ngồi trên xe, Chi vào mua vé xe lửa đi về Sàigòn. Khi đưa tôi lên xe lửa, Chi ân cần căn dặn: “Không nên về nhà, cũng đừng liên lạc với mẹ, mà tìm một người bà con nào đó ở tỉnh khác xin trú ngụ vài ngày, rồi tìm đường vượt biên. Tốt nhất là đi đường bộ qua ngã Campuchia”. Chi đưa cho tôi một gói giấy và nói: “Đây là ít tiền để anh tiêu dùng, nhớ là phải vượt biên ngay nhé!”. Chi cầm tay tôi và chân thành nói : “Em là vợ của anh, anh đừng quên em!”. Tôi ôm Chi vào lòng, nước mắt ràn rụa. Chi cũng khóc trên vai tôi. Xe lửa từ từ lăn bánh, hình ảnh Chi cô đơn đứng một mình trên sân ga, nhỏ dần, nhỏ dần.. Tôi thấy nhiều lần Chi đưa tay lên lau nước mắt. Trong tim tôi, mối tình mà Chi dành cho tôi quá sâu đậm, đã chiếm trọn cuộc đời tôi. Tôi vỗ vỗ vào trái tim của mình “Đạo, Đạo, mày phải sống xứng đáng để đền ơn đáp nghĩa cho Chi nghe chưa”
Khi xe lửa dừng lại ở ga Bình triệu, Sàigòn, tôi không về nhà tôi ở Vĩnh Long, mà đến nhà dì tôi ở Cần Thơ xin trú ngụ.Chồng của dì tôi là một Đại úy Công Binh Việt nam Cộng Hòa, trước năm 1975, ông phục vụ ở Tiểu Đoàn 24 Công Binh Kiến tạo, mới được trả tự do. Gia đình dì, dượng tôi đang âm thầm chuẩn bị vượt biên. Dì, dượng tôi vui vẻ chấp thuận cho tôi cùng đi theo. Tôi đã đưa gói tiền mà Chi trao cho tôi, cho dì tôi để bà tiêu dùng.. Mở gói ra xem, dì bảo tôi : “Tiền đâu mà cháu có nhiều vậy?” Tôi trả lời ngay : “Của vợ con cho đó!”
Vào một đêm tối trời, ghe máy chở cả nhà ra cữa biển Đại Ngãi, vì tàu lớn đang đậu ở đó. Sau 3 ngày và 4 đêm, tàu của chúng tôi đã đến hải phận Thái Lan, được tàu tuần duyên của Thái Lan đưa về trại Sikiew. Trong cuộc phỏng vấn thanh lọc, nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc hỏi tôi rất ít. Tôi nghĩ là họ có đầy đủ hồ sơ cá nhân của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Họ chỉ hỏi tôi là làm Trưởng G hay Trưởng H, tôi trả lời. Người nhân viên đó lấy trong tập hồ sơ ra một tấm ảnh, anh nhìn tôi rồi gật đầu.Thế là tôi vượt qua cuộc thanh lọc. Mấy tháng sau, họ chuyển tôi qua trại Pulau Bidong ở Mã Lai, để chờ chuyến bay đi định cư ở Mỹ.
Tôi mau chóng gởi thư cho má tôi ở Vĩnh Long, báo tin tôi đã bình yên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai, đang chờ chuyến bay để đi định cư ở Mỹ. Khoảng 2 tuần sau, tôi vui mừng nhận được thư hồi âm của má tôi, và một bất ngờ thú vị đến với tôi là có cả thư của Chi nữa! Má tôi đã viết cho tôi : “Đạo con, má rất vui mừng nhận được tin con đã đến nơi bình yên. Má cho con biết là Chi đang ở đây với má. Chi đã kể cho má nghe hết mọi chuyện. Má rất hạnh phúc có được một con dâu hiếu thảo như Chi, má mừng cho con”
Đạo run run mở thư của Chi ra đọc: “ Anh Đạo yêu quí của em, nghe anh đã đến đảo và đang chờ chuyến bay để đi Mỹ, má và em mừng quá anh ơi. Khi anh đi về Nam chưa đầy một tháng, họ đuổi em ra khỏi ngành công an. Em đã về Vĩnh Long ở với má, em thay anh phụng dưỡng, săn sóc má, anh yên tâm ! “
Với lời lẽ chân tình, mộc mạc, tôi uống từng chữ, từng lời trong bức thư ngắn gọn của Chi, tôi áp bức thư vào ngực và đi vào giấc ngủ.
Năm 1982, tôi được đi định cư ở Mỹ. Khi có thẻ xanh, tôi đã làm hồ sơ bảo lãnh Chi. Trong thời gian ở với má tôi ở Vĩnh Long, không biết Chi hỏi thủ tục bảo lãnh ở đâu mà nàng ra Thái Bình, nhờ người cậu Thượng Tá Công An của nàng, làm một giấy hôn thú của tôi và Chi, có đầy đủ chữ ký và khuôn dấu đỏ xác nhận của chính quyền địa phương.
Năm 1987 khi tôi được nhập quốc tịch Mỹ, tôi đã bổ túc hồ sơ bảo lãnh. Chi đã nhanh chóng được phỏng vấn. Lúc này, những trường hợp gian dối chưa xảy ra nhiều, nên việc chấp thuận cho chồng bảo lãnh vợ tương đối dễ dàng nếu có đầy đủ giấy tờ chứng minh.
Vào một ngày se lạnh ở miền Nam Cali, tôi và vài bạn bè thân quen đến đón Chi ở phi trường Los Angeles. Tôi ôm Chi vào lòng, vì quá cảm động, tôi chỉ thốt lên được một tiếng “Em!” Chi cũng vậy, nàng thổn thức trên vai tôi “Anh!”.. Chỉ 2 tiếng “Anh” “Em”, nhưng đã gói trọn cuộc tình mà chúng tôi nghĩ là không bao giờ có thể sum họp được. Tạ ơn Trời Đất ! 
Đạo xây qua người đàn bà ngồi bên cạnh anh, và giới thiệu với tôi : “Thưa anh, đây là Chi, vợ em” Chi bẽn lẽn cúi đầu, che dấu nụ cười đã đem lại sức sống và hạnh phúc cho Đạo.
Tôi đã được nghe , được biết nhiều mối tình ly kỳ, éo le lắm. Nhưng nếu nói đến một mối tình thật lãng mạn, mà người con gái đã dám hy sinh sự nghiệp và cả tính mạng mình cho người yêu, thì không thể không nói đến mối tình của nàng Kim Chi và chàng Trung Đạo.

BỊP

TLC. BÙI TRỌNG NGHĨA - K18/SQTB/TĐ

“Không cho nó vào, đồ bán nước, cho nó vào bẩn nhà!” Đó là những lời phát ù ra từ miệng người đàn bà nhà quê có đôi mắt toét, có cái yếm nâu gấp dọc, để lộ một nửa ngực xương xẩu, trên tay ôm đứa con thơ gầy guộc, thiếu sữa, miệng đang ngậm cái vú xề của mẹ”.

Tôi chính là người có hân hạnh được chị phỉ báng như trên. Ngày đó vào khoảng tháng mười năm 1978, ở thị xã Nghĩa-Lộ thuộc tỉnh Yên-Bái, và traị giam tôi tại một địa điểm có tên là Ma-thiên-Lãnh (tên nghe rợn người!). Tên bộ đội quản giáo thấy tôi đi tụt ở đàng sau, đang cố lết cái thân tàn theo đoàn tù lên rừng chặt nứa, hắn “nhân đạo” nói “anh này sao mặt đỏ thế, ốm hả?” Tôi trả lời “vâng, tôi đang lên cơn sốt”. Hắn tiếp “thôi cho anh về trại nghỉ, ngày mai khỏe làm trả chỉ tiêu hôm nay”.

Trên đường về trại, chợt từ trong căn nhà lá, vách đất ọp ẹp xiêu vẹo ở trên một dẻo đất cao sát lộ, một người đàn ông gầy guộc, tuổi chừng ngoài ba mươi bước vội ra và nói “này anh kia, đứng lại cho tôi hỏi thăm một tí. Miền Nam các anh sao nghèo thế, một cân muối cũng khó kiếm, Đế quốc Mỹ nó thâu tóm, vơ vét hết cả phải không? Đây thuốc lá đồ sơn, anh cầm lấy một điếu mà hút, rồi vào nhà cho tôi hỏi về Nam bộ một tí”. Tôi chưa kịp nhận điếu thuốc “ân huệ” đó, thì người đàn bà, vợ của anh xuất hiện đằng đằng sát khí, chỉ thẳng tay vào mặt tôi và quát to như ở trên. Tâm trạng tôi lúc đó có hơi bực bội, trộn lẫn xót xa cho thân phận mình, đồng thời cũng có một chút tội nghiệp chị. Tôi rảo bước và nghĩ thầm “nạn nhân của thủ đoạn “Bịp”!

Tôi bán nước hay bác Hồ của chị bán nước?

Ngày 14-9-1958, ngày mà bác Hồ của các cháu nhi đồng chỉ thị cho thủ tướng Đồng ký cái công hàm bán biển, bán đảo, chắc chị mới chập chững biết đi. Hôm nay đây, nếu còn sống chắc chị cũng đã ngoài năm mươi tuổi, tuổi “ngũ thập tri thiên mệnh” chắc chị phải thấy được người ta đã bán gần hết cả đất, bán luôn cả người, người đi lao động, người đi làm đĩ qua nước ngoài .v. v.  Người ta bắt bớ, bỏ tù, bịt miệng những người “yêu nước” (?) như chị. Ngoài ra, chắc chị cũng có thể hiểu được người miền Nam xưa kia tại sao người ta dùng từ “đổi nước” thay cho những từ “mua nước”, “bán nước” khi cần có nước dùng trong nhà. Tại vì họ sợ từ “bán nước”!

Bây giờ chị ở đâu, còn sống hay đã chết? nhà cửa, đất đai của chị có bị người ta lấy đi bán cho Trung Cộng hay không? Những dân oan bị họ phá nhà, cướp đất đang lê lết khiếu kiện dầm dề, dai dẳng, trên hè phố. Trong số những người đau khổ đó có chị không? Tôi, một lần nữa lại đang tội nghiệp chị đây!

Đức nằm cạnh tôi, anh chết lúc nào tôi không biết, liệm xác anh, tôi thấy trong túi áo có một cái đầu gà toi tím đen và hai lát bí mà anh chưa kịp nấu. Chắc hôm qua anh mò vào nhà người mường kiếm ăn, may mắn vớ được món “bở” mà người mường chê! Không ngờ cái đầu gà toi này và hai lát bí kia lại có cái duyên thay thế bát cơm và quả trứng tiễn anh.

Trong suốt những ngày cùng chung “nửa kiếp tu, nửa kiếp tù” với nhau, Đức thường hay tỏ ra bực bội, khó ngủ vì lũ chim bìm bịp cứ rúc suốt từ chập tối cho tới tờ mờ sáng. Anh cọc cằn, cáu kỉnh, đôi khi chửi thề mỗi lần nghe ai nhắc tới lũ chim này. Chuyện xưa của những ngày sau khi “tan hàng”, đặc biệt là cái thông cáo của Uỷ ban quân quản Việt cộng như sau: “Trình diện học tập mang theo 10 ngày lương thực” cũng vậy, anh thường văng tục mỗi khi có ai vô tình nhắc tới cái quá khứ đó, và thường nói với tôi rằng “ngoài Bắc này có quá nhiều bìm bịp”. Tôi đoán hình như anh mang nặng một tâm sự gì uất ức khó giải.

Anh mỉa mai ông Hồ-chí-Minh như sau: “ông già này “bịp” hay thiệt, xuyên suốt những ngày dài thôn tính miền Nam, ông luôn phỉnh phờ bọn mặt trận giải phóng miền Nam bằng câu “Miền Nam đi trước về sau”. Bọn này hăng máu cắm đầu đánh chí mạng. Sau 30-4-1975, bọn nón tai bèo bị bọn nón cối cho về vườn chăn vịt!” Phần anh và phần chúng ta, anh cũng luôn hậm hực nói: nó “bịp”. Chúng mình không quen “bịp”, nên nó chỉ mới lưới nhẹ một tí mà cá lớn, cá bé chui tọt vào rọ.

Anh nói đúng, ngày đó, chính đài phát thanh BBC sau khi bình luận về nghệ thuật lừa bịp của Hà-Nội, đã kết luận như sau: “lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh, những người lính thua trận tình nguyện đi vào tù”. Đức lầm lì ít nói, nhưng sâu sắc, mỗi khi anh cất tiếng, bạn bè đều để ý ù lắng tai nghe. Đề cập tới những chiến hữu tự tử ngay sau khi tướng Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, anh nói “tâm lý con người thật phức tạp, khó hiểu, ở ngay những giây phút tuyệt vọng đầu tiên, người ta dám chết, nhưng nếu đã phải sống lâu dài trong tuyệt vọng, cận kề lê lết với cái chết, thì lạ thay, người ta lại sợ chết!” Tôi thấy anh có lý.

Ngày Đức vĩnh viễn nằm ngủ trên đồi hoang thuộc vùng rừng núi Hoàng-liên-Sơn, chúng tôi đã trải qua hơn một ngàn ngày sống trong tuyệt vọng. nhưng không có mấy người tự tử.

Hôm nay đây, đã ba mươi chín năm qua, Đức còn nằm ở chốn cũ hay đã có may mắn về gần vợ, con? Lúc này đây, tôi đang nhớ đến anh, nhớ đến những chiến hữu của tôi đã được bó chiếu chôn cạn trong vùng rừng thiêng nước độc nơi miền Bắc lạnh lẽo đó mà chạnh lòng!

Con chim bìm bịp miền Bắc mà Đức cay đắng, sau 30-4-75, không những nó đã ồ ạt bay tràn xuống miền Nam, mà ngày hôm nay đây, nó còn vượt cả đại dương đến tận cái thủ đô của người Việt tị nạn này, mang theo dưới đôi cánh cái gọi là “nghị quyết 36”. Phần tôi, tôi vẫn đang nhớ đến Đức, nhớ đến con chim bìm bịp mà Đức ghét, và một lòng cũng ghét nó như Đức ghét. Thế nhưng, chỉ mình tôi thôi thì tôi sẽ làm được gì?

Sau những năm dài lê thê, ngư dân ta bị lũ Tàu Cộng xâm phạm lãnh hải, ức hiếp, bắt bớ, giết chóc, nhận chìm tàu, thuyền. Chính phủ Việt Cộng hèn hạ, câm nín, sợ sệt, lại còn cong lưng triều cống thêm đất đai. Quyết tâm khuyển, mã với mười sáu chữ vàng.

“Tức nước vỡ bờ”, người Việt trong và ngoài nước rầm rộ ra đường biểu tình, mạnh mẽ đả đảo bọn Tàu cộng, đồng thời lên án hành vi tránh né, cân nín khiếp nhược của tập đoàn cầm quyền hiện tại. Trước tình hình ngày thêm nghiêm trọng, lo sợ những cuộc biểu tình rất có thể biến thành chống đối chính quyền. Thủ tướng Việt cộng giả bộ can đảm nhắc tới danh từ “chính quyền miền Nam VNCH” trước kia đã “quản lý” hai đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa.

Nghe vậy có một số người Việt tị nạn đã hí hửng khen ngợi là hắn can đảm và tỏ ra cứng đầu với Tàu cộng. Hãy thận trọng, chủ (Tàu), tớ (Việt) ngầm hiệp ý với nhau để “Bịp” đấy. “Đừng tin những gì CS nói, hãy xem những gì CS làm”. Giờ đây, nếu Đức còn sống chắc cũng đồng thuận với tôi cái ý này.

“Anh Đại Úy đi về đi, tôi hiện còn mệt, không muốn tiếp truyện với bất cứ ai, không trả lời bất cứ một cuộc phỏng vấn nào”. Đó là lời từ chối gay gắt của một vị linh mục quản nhiệm nhà thờ La-Vang tỉnh Quảng-Trị năm 1972. Tôi tìm đến để thăm ngài dưỡng bệnh tại nhà thương Saint Paul Sài Gòn. sau khi Quảng Trị đã được quân lực ta tái chiếm. Cuối cùng qua sự khéo léo, lựa lời vấn an, ngài mới từ tốn tuần tự tường thuật những diễn biến sau khi cộng quân đã hoàn toàn làm chủ được QuảngTrị như sau:

“Việt cộng tấn công Quảng Trị, tôi nhất định không di tản, ở lại chăm sóc một số giáo dân tiếc của. Sau khi Việt cộng đã hoàn toàn làm chủ La-Vang, họ đến nhà thờ gặp tôi và hỏi tôi “Ông linh mục cho chúng tôi biết ở đây đồng bào tôn thờ gì?” Tôi trả lời “Dân chúng ở đây hầu hết là người công giáo”. Hắn buông xẵng một chữ “được”, rồi bỏ đi. Vài ngày sau, giáo dân cho tôi biết lính Việt cộng hiện đang đi vào những nhà nào bị pháo kích, chúng quét dọn bàn thờ, dựng lại tượng Chúa, họ lầm lì không nói một lời. Chứng kiến hành động đó, tâm trạng giáo dân thật là hoang mang trộn lẫn với cảm động. Phần tôi, tôi tránh không nhắc tới trong ngày lễ chủ nhật.

Một ngày, bất chợt có ba lính Việt cộng đến nhà thờ, họ dựng chiếc xe honda ở trước sân, một người vào gặp tôi cho biết họ sẽ đưa tôi đi xa ít ngày. Họ chờ tôi ở ngoài sân và bảo tôi vào chuẩn bị hành trang. Sau cùng, tôi ngồi trên xe honda bị kẹp giữa hai tên lính, vượt qua cầu Hiền-Lương chạy về hướng bắc.

Sau hơn một ngày một đêm thì đến khách sạn Métropol ở Hà-Nội. Tại đây, trước cửa đã có một nữ quân nhân đứng sẵn, cô chào hỏi, vấn an tôi, cử chỉ nhã nhặn lịch sự, hướng dẫn tôi lên phòng ngủ và dặn dò ít điều. Sau cùng cô nói chờ tôi ở dưới nhà để dùng cơm.

Tại bàn ăn, cô đưa cho tôi cái menu và ân cần mời tôi lựa chọn món ăn nào tùy ý. Tôi đảo mắt một vòng, thấy rất nhiều khách ngoại quốc. Biết ý, cô cắt nghĩa, “Họ là đồng chí những nước bạn Liên sô, Cu ba, Hung ga ri v.v. đến đây để giúp chúng tôi chống Mỹ”. Sau bữa ăn, cô cho tôi biết ngày mai chủ nhật, cô sẽ đến để đưa tôi đi “tham quan” một ít nhà thờ và tôi sẽ tận mắt nhìn thấy giáo dân miền Bắc tự do đến nhà thờ cầu nguyện.

Sáng sớm hôm sau, một chiếc xe nhỏ giống như xe jeep của mình đã đỗ sẵn ở cửa khách sạn. Tôi lên ngồi ở ghế sau, hai ghế trước là tài xế và cô lính đó. Họ chạy qua ba cái nhà thờ, đỗ xe từ xa, cho tôi nghe tiếng chuông đổ và nhìn giáo dân đi lễ. Sau đó trở lại khách sạn. Trước khi chia tay, cô cho tôi biết ngày mai tôi sẽ được đưa về Quảng Trị”.

Kết thúc cuộc tường thuật, vị linh mục khả ái bất chợt nghiêm mặt, khuyến cáo tôi như sau: “Anh về trình với Trung-Tướng Trung của anh là tôi đề nghị: nghề tâm lý tuyên truyền của các anh còn cần phải học hỏi ở nơi những người Việt cộng đó!”

Phần tôi, sau khi lãnh hội lời khuyến cáo của Cha, tôi có ý muốn kể cho Cha nghe một chuyện khó tin mà có thật. Đó là trong một cuộc hành quân sát biên giới Việt-Miên, có một cụ già ở làng đã bị Việt cộng chiếm đóng lâu ngày, tay cầm cây gậy chọc nhiều lần vào xe thiết giám M113 của ta và hỏi rằng “xe này làm bằng giấy cứng phải không?” Hỏi ra mới biết Việt cộng “bịp” rằng “bà con đừng sợ, xe của giặc làm bằng giấy, B40 của cách mạng bắn là cháy như đuốc”. Thế nhưng tôi chưa kịp cất lời, Cha đã vội vã đứng dậy tỏ ý tiễn khách.

Đã ba mươi chín năm qua, quê hương ta đã và đang bị vùi dập dưới bàn tay cai trị tàn bạo của những kẻ vô lương vô đạo. Vị linh mục khả ái xưa kia của Quảng Trị kiêu hùng nay còn sống, hay đã được Chúa gọi về? Chắc hẳn, xưa kia, khi đi “tham quan” Hà-Nội, cô nữ cán bộ Việt cộng duyên dáng, nhã nhặn kia không nói cho Cha biết họ đã cướp hết đất đai của nhà thờ. Phần Cha, chắc cũng đã quên hỏi cô nữ Việt cộng kia có tôn giáo hay không?

Hôm nay đây, tôi đang đứng giữa trời đêm lạnh giá trên quê hương người, đôi tay run rẩy ôm cây nến sáng, cùng với đồng bào lưu vong tội nghiệp của tôi dâng lên trời, lên Chúa Ki-Tô ngọn lửa của trái tim yêu thương, ngọn lửa soi sáng tối tăm, ngọn lửa xua đuổi những lăng nhục, bạo tàn, thù hận, và cùng hiệp thông cầu nguyện cho quê hương được toàn vẹn lãnh thổ, cho đất nước có được tự do, có được công lý, cho người dân có được bình đẳng, nhân phẩm được tôn trọng, và kẻ bạo tàn cầm quyền tỉnh thức u mê.

 TLC.BÙI TRỌNG NGHĨA - K18/SQTB/TĐ

 Quận Cam 2/2014

SÀIGÒN hay HỒ CHÍ MINH ?

Những hậu quả của một thành phố thay tên

Mỗi mùa xuân về trên quê hương Việt Nam , chúng ta lại nhớ đến địa danh Sàigòn.

Sàigòn, tự nó đã đầy đủ ý nghĩa. Không cần phải thêm thủ đô hay thành phố gì cả. Hai chữ Sàigòn đã in sâu vào từng tâm hồn của ngưòi dân Việt Nam mà còn quen thuộc với người ngoại quốc với tên gọi không có dấu: “ Saigon ” để rồi từ đó mọi người đều có thể viết chữ Sàigòn dính liền lại với nhau mà không bỏ dấu “ SAIGON ”.

Không biết bao nhiêu bài luận văn của các em học sinh từ tiểu học đến trung học tả về Saigon . Không biết bao nhiêu thi sĩ, nhạc sĩ viết về Saigon . Saigon nằm soi mình bên dòng sông cùng tên Saigon, thật lãng mạng và kêu ngạo cùng tuế nguyệt.

Chúng ta hãy lắng động tâm hồn để tìm về sự mộc mạc của người Việt Nam đối với Saigon thân yêu.

1. - Thưa cô đi đâu?
-
Saigon .

2. - Bà ngoại đi đâu?
- Lên Saigon.

3. - Mầy từ đâu về?
-Từ Saigon.

Chỉ cần một chữ Saigon là đầy đủ rồi. Nhưng trong 30 năm qua, Saigon bị mất tên, bị thay thế bằng tên của nhân vật Hồ Chí Minh. Sàigon ngậm ngùi tức tưởi, thổn thức với lời ca trong bài Vĩnh Biệt Saigon: “...ta mất người như người đã mất tên…”.

Người Cộng Sản Việt Nam rất lấy làm hãnh diện với cái gọi thành phố Hồ Chí Minh. Cái tên nghe vừa dài vừa chói tai, lúc nào cũng phải thêm chữ “thành phố”. Nếu thiếu chữ “thành phố” thì nguy to. Bởi vì kêu Hà Nội thì ai cũng hiểu là điạ danh Hà Nội, nhưng kêu Hồ Chí Minh khơi khơi thì có khi người ta không biết kêu cái quái gì?

Bây giờ xin mời những người Cộng Sản Việt Nam cùng chia xẽ có nên để tên Hồ Chí Minh hay nên trả tên lại cho Saigon . Nếu quí vị nhất định khư khư giữ nguyên tên Hồ Chí Minh, thì nên cùng thưởng thức những mẫu chuyện và truyền khẩu từ ngưòi này sang người khác, từ nơi này sang nơi khác mà tạm gọi là truyền khẩu dân gian, hãy xem như một cuộc trưng cầu dân ý có được không?

1. - Bây giờ nói về tệ nạn xã hội:

Bởi Việt Cọng đã cố tình thay thế chữ Sàigòn bằng chữ Hồ Chí Minh cho nên cũng phải thay đổi luôn cả cách xưng hô thường ngày như sau:

- Người ta thường kêu là “Du Đãng Saigon nay xin sửa lại: “Du Đãng Hồ Chí Minh”

- Ngày xưa ít thấy “Đĩ Saigon cònbây giờ. “Đĩ Hồ Chí Minh" nhiều quá.

- Ngày xưa ít thấy mấy thằng "điếm Sàigòn", bây giờ phải coi chừng mấy thằng “Điếm Hồ Chí Minh”.

2. - Bây giờ nói về dân gian: Khi nói đến dân gian thì không phải như viết văn chương, chỉ nói tắt hiểu là được. Không cần chính tả hay văn phạm.

- Mầy lấy vợ ở đâu?
- Dạ em lấy vợ Saigon .

”Lấy vợ Saigon" xin đổi lại là “Lấy vợ Hồ Chí Minh”.

- Chị mua gà ở đâu?
- Mua gà Saigon : "Gà Saigon" phải đổi lại là Gà Hồ Chí Minh”.

- Đi Saigon nhớ coi chừng chó, chó Saigon dữ lắm. “Chó Saigon” xin đổi lại là “chó Hồ Chí Minh”

- Má ơi lên coi truyền hình kìa xe đụng ghê lắm. Xe đụng chỗ nào? Xe đụng Saigon . Xe đụng Saigon xin đổi lại là “xe đụng Hồ Chí Minh.”

- Thịt chó Saigon ăn ngon quá. "Thịt chó Saigon" phải đổi lại là “thịt chó Hồ Chí Minh”

- Đừng làm giả đồ của Pháp bị bắt đó nghe. Vỏ Paris, ruột Saigon là phạm pháp. Xin đổi là: “Vỏ Paris, ruột Hồ chí Minh”.

- Saigon nóng đổ mồ hôi, xin đổi lại là “Hồ Chí Minh nóng đổ mồ hôi”.

- Saigon nóng muốn lột quần lột áo. Xin đổi là “Hồ Chí Minh nóng muốn lột quần lột áo”.

- Đi Saigon thì phải mua giầy da Saigon . Xin đổi lại “Giầy da Hồ Chí Minh”

- Gió thổi mạnh quá nên nhà Saigon bị sập. Xin đổi lại ‘nhà Hồ Chí Minh bị sập’.

Và còn nhiều nhiều lắm lắm……….

Hãy cùng nhau qua truyền khẩu dân gian để thay thế “Saigon” bằng cái gọi là Hồ Chí Minh để cả 92 triệu người dân Việt Nam có dịp thi thố tài văn chương dân gian của mình để có những trận cười hả hê mà người ta gọi là chuyện cười dân gian.

Trăm năm bia đá cũng mòn,
Ngàn năm bia miệng vẩn còn trơ trơ

Để người cộng sản Việt Nam hiểu được sự ngu si của họ và sức mạnh của quần chúng. Ai đã đổi tên Saigon thì bây giờ kẻ đó phải gánh chịu“gậy ông đập lưng ông”..

Các địa danh như, Hà Nội, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, Cần Thơ, Cà Mau… Mà hình như tất cả các điạ danh ở Việt Nam chỉ cần nói tên là người ta hiểu được liền đâu cần phải thêm chữ: thành phố hay tỉnh…. Vây nói khơi khơi Hồ Chí Minh thì là cái con khỉ khô gì? Thật là cười té đái.

Chú lơ xe đò gọi hành khách: Saigon không? Saigon đây !

Hành khách đứng dưới đường vẫy tay trả lời : Saigon, Saigon …..

Bây giờ sửa lại : Chú lơ xe đò gọi hành khách:"Hồ Chí Minh, không? Hồ Chí Minh đây!" và nhiều cô "Đĩ Hà Nội" khoác tay nóí : "Không ĐI Hồ Chí Minh, Không ĐI Hồ Chí Minh…".

Có thể trong đám hành khách đó có cả nữ đảng viên đảng CSVN.

Việc đổi tên Saigon và áp đặt tên gọi là Hồ Chí Minh là do chính những người công sản Việt Nam tạo ra. Nay chỉ xin được dùng cái gọi là Hồ Chí Minh để thay thế những lời nói dân gian, nghĩa là cứ chỗ nào có chữ Saigon thì thay vào đó là chữ Hồ Chí Minh.

Quí vị CSVN nghĩ sao?
Quí vị độc giả nghĩ sao?

Người cộng sản Việt Nam đã sai lầm giữa địa danh và tên nhân vật, mà cái ác nhất lại là tên của nhân vật được những người cộng sản Viêt Nam sùng bái. Cái thây ma nằm giữa Ba Đình, mỗi năm phải tiêu phí biết bao nhiêu tiền của nhân dân Việt Nam ? Người cộng sản sống thì tham nhũng, tham lạm tài sản quốc gia. Người cộng sản chết cũng ăn bám nhân dân Việt Nam, đó chính là cái thây ma Hồ Chí Minh.

Người chết phải trở về cát bụi. Thây ma thì phải đem chôn hay thiêu. Có một người vào xem xác chết của Hồ Chí Minh, khi về nhà không dám ngủ, mà nhắm mắt lại là thấy ác mộng hay nói đúng hơn là thấy thây ma Hồ Chí Minh. Cuối cùng phải đi xem bác sĩ tâm lý. Bác sĩ tâm lý khuyên: bạn đừng nghĩ tới cái xác đó nữa, cứ xem như nhìn thấy xác của một con vật nào đó, thí dụ như xác con gà, con cá bán ở chợ là được rồi.

Đất nước Việt Nam đã bị người cộng sản tàn phá. Không biết bao nhiêu bút mực của các nhà văn, nhà phê bình, nhà bình luận… của rất nhiều thế hệ lên án. Người cộng sản cần phải thức tỉnh một cách thật sự mà hãy trả lại những gì của Việt Nam cho dân tộc Việt Nam.

- Cỏ cây còn biết hờn sông núi
Giang sơn gấm vóc phải ngậm ngùi.

người việt nam hèn hạ

Bài viết của một người bạn, một nhà văn trẻ. Đọc xong bạn có thấy mình trong đó?

Bài viết này sẽ không có một chữ việt nam nào được viết hoa.

Bởi chúng ta có xứng đáng được trân trọng như vậy không? Không hề.

Cách đây đã lâu, tôi đọc “người trung quốc xấu xí” của ông Bá Dương (Đài Loan), chưa bàn tới hay/ dở/ đúng/ sai của nội dung cuốn sách gây tranh cãi ầm ĩ đó, tôi chỉ nhớ lại cảm giác giật mình của tôi khi đó. Khi tôi đọc lướt qua vài trang sách. Tôi như vỡ ra một niềm cảm khái mà từ lâu nó cứ âm ỉ trong lòng. Tôi biết thế giới đã từng có những cuốn “Người Mỹ xấu xí”, “Người Nhật Bản xấu xí”, rồi mới đến cuốn của ông Bá Dương. Tôi vừa đọc, vừa tự hỏi, tại sao người việt nam chúng ta không có một cuốn như thế này? Tại sao chúng ta cứ tự ru ngủ mình trong cái điệp khúc dân tộc việt nam là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” & nhìn đâu cũng thấy anh hùng, liệt sĩ… Nếu thực sự chúng ta có những tố chất đó, nếu thực sự chúng ta là những người như thế, sao kết quả chúng ta hiện nay lại là một đất nước như thế này?

Một đất nước mà hơn phân nửa các cô cậu tú tài đi thi cử nhân khoe rằng mình có quay cóp một cách hoàn toàn không có chút tự trọng (đó là được hỏi, còn báo chí không cần hỏi vẫn có những hình ảnh phao thi trắng cả trường thi! Vậy thì thi cái gì? Thi xem ai quay cóp giỏi hơn chăng?). Trong đó còn có cả những đứa trẻ bảo rằng năm nay không thi thì năm sau thi, chứ làm bài mà phỉ báng “thần tượng Su-Ju” của nó là nó không thi! Mặc cho bao nhiêu tâm sức, kỳ vọng của gia đình, nhà trường, xã hội – những nền tảng đã cho nó có được cuộc sống và kiến thức để mà tiếp cận được với Su-Ju danh giá của nó. Thế mà nó vẫn được rất nhiều đứa trẻ khác tung hô! Chính là những đứa trẻ sẵn lòng khóc lóc, quỳ gối, hôn ghế… trước thần tượng. Một dân tộc gì đã sản sinh và nuôi dạy ra một thế hệ kế thừa như thế?

Con nít nó học cha anh mà ra, chúng ta đã nuôi dạy trẻ con thành ra như thế sao? Đừng ai đổ thừa cho ai. Vì trường học đổ cho cha mẹ, cha mẹ đổ cho xã hội, xã hội đổ cho cha mẹ & nhà trường. Tóm lại, đừng đổ nữa. Hãy biết hốt về mình đi! Tất cả chúng ta là người lớn, chúng ta đều có lỗi.

Bởi người lớn có hơn gì? Một xã hội mà người ta đang sẵn lòng thuốc chết nhau đi từng ngày bởi tiền bạc bất kể lương tri. Làm quan thì chỉ lo vơ vét, tham nhũng, quỳ gối trước ngoại bang để duy trì sự thống trị trước nhân dân. Gần 40 năm thống nhất, việt nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường & trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có,… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng “cơm no, áo ấm”. Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! “Doanh nhân là chiến sĩ thời bình”. Cứt! Tôi ỉa vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường. Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền việt nam trước khả năng dùng “luật im lặng” của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất. Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Đơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng vì lợi ích cá nhân & gia đình nó – nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Đừng nói với tôi là “lý tưởng Hồ Chí Minh” hay “lý tưởng cộng sản” nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ Đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là “phản động”.

Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết,..

Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa?

Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh & ức hiếp bên dưới.

Sao mà tôi sợ bọn người đó như thế?!

Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm “đầy tớ” của nhân dân!

Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sài gòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan.

Bọn công bộc đó đã đẩy 2 mẹ con người phụ nữ nọ phải dùng đến cách phản kháng cuối cùng mà họ có là khỏa thân ở giữa đường để đòi lại công bằng. Vì trong tay họ còn có gì để chống lại chúng ngoài phẩm cách  của người đàn bà vốn được coi là thiêng liêng? Họ dùng đến cách đó, và cuối cùng bị chúng lôi kéo dọc đường và nỗi oan của họ có ai thèm đoái tới?

Bọn công bộc đó đã đẩy đến đỉnh điểm hôm nay, một người mẹ uất ức tự thiêu trước cổng 1 cơ quan công quyền vì không còn sức để chịu đựng chúng…

Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Đáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.

Bọn này tiếp tay cho bọn con buôn cũng lưu manh không kém. Thế là chúng ta ăn thức ăn có độc mỗi ngày, con cháu chúng ta uống sữa độc mỗi ngày, chúng ta đi trên những con đường hiểm họa mỗi ngày, chúng ta tiêu dùng những gì chúng mang tới, chúng ban phát, với giá mà chúng ấn định, với mức thuế mà chúng muốn,… không còn một lựa chọn nào khác. Không biết làm gì khác, không có phản ứng gì khác! Vì chúng ta lương thiện.

Kẻ không lương thiện có những phản ứng tàn độc hơn, hoặc biến hẳn sang một trạng thái sống khác, như một sự kết tinh cao cấp hơn của một xã hội đương nhiên sẽ sản sinh ra nó.

Tôi nghĩ đến bọn này khi tôi đọc tin về tên bác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.

Tôi đọc tin ông bà chủ đánh trẻ làm công đến thương tật.

Tôi đọc tin một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc chỉ vì một chiếc xe máy và chút ít tài sản.

Tôi đọc tin bọn chủ & lơ xe vứt xác hành khách bị lèn chết giữa đường mà cả xe không ai phản ứng.

Tôi đọc tin nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt.

Tôi đọc tin người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp!

… còn rất nhiều tin.

Một dân tộc gì mà độc ác và hèn hạ thế?

Dĩ nhiên không chỉ có mình tôi biết đau đớn vì những điều đó.

Chúng ta có cả một thứ to tát mà tôi tạm gọi là “nền văn chương than khóc”.

Trong những tác phẩm thi ca xuất bản từ khoảng 20 năm trở lại đây, tôi không dám nói mình đọc nhiều hay nghe nhiều, nhưng tôi cố gắng đọc, nghe, cố gắng tìm tòi, cố gắng tìm kiếm một tác phẩm nó xứng đáng làm cho tôi thấy dân tộc việt nam của tôi thực sự là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” một cách đúng nghĩa. Vì hãy quên những hình tượng cách mạng cao đẹp trong văn chương hay cả âm nhạc của miền Bắc thời chiến tranh đi! Đó không phải là văn chương, nó là thuốc pháo, tìm cách dẫn dắt, thôi thúc người ta chém giết & chết. Không hơn không kém.

Các bạn có tìm kiếm giống tôi không? Và các bạn có tìm thấy không? Hay đầy rẫy xung quanh chúng ta chỉ có 3 loại:

-          Loại mờ nhạt, rẻ tiền, xúc cảm vu vơ, vụn vặt, vô thưởng vô phạt.

-          Loại có trăn trở, có suy tư, nhưng toàn đau đáu những nồi niềm xưa cũ, tương lai chả biết phải vứt đi đâu và vứt cho ai?

-          Loại mạnh mẽ hơn, trực diện hơn, nhưng tầm vóc tác phẩm chỉ ở mức gẩy lên 1 tiếng đàn, rồi thôi!

Tinh thần chúng ta đang được nuôi dưỡng bằng những thứ chỉ đến mức đó thôi.

Còn những thứ hổ lốn lai căng phát trên TV, bán ngoài sạp báo mỗi ngày, tôi không dám kể tới, vì đó là nỗi kinh hoàng mà nếu phân tích thêm, chỉ muốn vứt cái đầu mình đi, không cần suy nghĩ nữa làm gì cho mệt óc.

Vậy cái gì đã gây nên nông nỗi?

Tôi không muốn tạo ra sự hiểu lầm là cái gì cũng do lỗi cộng sản.

Nhiều người rất cực đoan, nói ra cái gì sai, họ cũng đổ vấy hết cho cộng sản.

Nhưng cộng sản tệ đến thế mà cai trị được chúng ta đến ngày giờ này, thì chúng ta cũng tệ không kém!

Nghe nói cụ Tản Đà có câu:

Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn!

Cho nên quân ấy mới làm quan.

Những gì độc ác, bẩn thỉu của cộng sản, những người khác đã nói đầy cả ra rồi, tôi nghĩ mình cũng không cần nhắc lại.

Tôi chỉ nghĩ đến một điều, cái gì đã làm cộng sản tồn tại lâu như thế?

Ngoài sự cấu kết quyền lực – quyền lợi để cùng bảo vệ lẫn nhau, cộng sản đã làm gì để chúng ta thành ra một dân tộc việt nam hèn hạ tự trên xuống dưới, từ già tới trẻ như ngày hôm nay? Ngoài sự mafia, côn đồ, trấn áp bằng sợ hãi, giáo dục một cách ngu dân ra, chúng còn làm gì nữa?

Ai từng học luật đều biết, khi quy phạm pháp luật không điều chỉnh được, thì hành vi con người sẽ phải điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức. Pháp luật không theo con người lên giường, vào toa-lét, xuống bếp. Nhưng đạo đức theo ta khắp nơi, tận trong ngõ ngách tâm hồn. Pháp luật cũng không ép tạo ra đạo đức. Chính sự vô thần vô thánh, không thừa nhận đức tin mà cộng sản triệt để nhồi nhét từ khi họ nắm được dân tộc này đã hun đúc ra những con người sẵn sàng bán thịt thối cho người ta ăn, đút sữa độc vào miệng con nít, chém mẹ ruột, giết con đẻ,… Vì những người này họ không sợ, hoặc họ tin rằng họ sẽ tránh được sự trừng trị của pháp luật. Khi pháp luật không trị được mà người ta không sợ luân hồi, không sợ quả báo, không sợ bị đày xuống địa ngục,… thì họ còn sợ gì nữa? Việc gì mà họ không dám làm?

Còn những kẻ yếu không có niềm tin là có Phật, có Chúa, có Thánh Allah luôn soi sáng mình, giúp đỡ mình, ngự trị trong mình, thì họ còn biết dựa vào đâu để tìm lại niềm lạc quan mà sống? Mà tranh đấu để tự tìm lấy giá trị sống thiêng liêng mà đấng tạo hóa đã ban cho mỗi chúng ta?

Tôi có cảm giác như mình đang sống giữa một bầy đàn hỗn loạn nhưng hoang vu, hỗn loạn về vật chất – nhưng hoang vu về tinh thần. Bạn có thấy như thế không?

Giữa sự hỗn loạn và hoang vu ấy, cái ác sẽ luôn luôn ngự trị, kẻ có sức mạnh sẽ luôn trấn áp chúng ta. Chúng ta - những kẻ được đến trường nhưng thật ra thất học, những kẻ nghĩ mình lương thiện nhưng thật ra không có lương tri, những kẻ đủ ăn mặc nhưng thật sự chưa hề nếm mùi vị hạnh phúc, những kẻ đọc sách – nghe nhạc mỗi ngày nhưng không biết đó chẳng phải là nghệ thuật đích thực – một nền nghệ thuật có thể soi sáng tâm hồn ta chứ không phải ru ta ngủ trong quên lãng. Những kẻ hoang mang không biết tin ai, không hiểu nên làm gì cho đúng.

Lúc đó, lúc hỗn loạn và hoang vu đó, anh cộng sản xuất hiện và nói: Đời chúng mày chỉ cần độc lập – tự do – hạnh phúc.

Chúng ta tưởng thế là hay ho lắm! Dù nền độc lập này có mang lại tự do không? Có hạnh phúc không? Hay chúng ta đang cúi đầu nô dịch cho ai đây? Chúng ta thực chất đang sống thế nào đây? Và đang để lại cho con cháu chúng ta di sản gì?

Chúng ta đeo bám theo họ, quên cả chính bản thân mình, một con người, cần phải sống sao cho đúng nghĩa, đúng phẩm cách, hành động đúng theo những gì mà một con người có lương tri cần phải hành động.  

Bạn có đang tự hào vì mình là người việt nam không? Hỡi những con người ấu trĩ mang trong mình một đinh ninh sắt đá là tôi rất tự hào vì tôi là người việt nam “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” đã từng đấu tranh thắng Mỹ, các bạn không thấy điều đó nó hết thời rồi à? Ta thắng Mỹ để có một xã hội phồn vinh, một dân tộc được tôn trọng. Chứ còn thắng Tàu, thắng Pháp, thắng Mỹ, thắng khắp nơi… Mà ngày nay những kẻ ta từng thắng đó, nó coi chúng ta còn không hơn con chó thì cái chiến thắng đó nhắc tới làm chi cho thêm nhục?

Mặt phải, chúng ta ra rả trên báo mỗi ngày là “Mỹ đã đến biển Đông”, “bà Hillary dọa TQ không nên gây hấn”,.. để mong lòng dân yên ổn. Mặt trái, chúng ta tổ chức ngày hội gặp gỡ những lớp cán bộ đã từng được Tàu đào tạo để cám ơn họ đã “dạy dỗ” cả đám chóp bu việt nam. “Đĩ” chưa từng thấy! Chưa có cái chính quyền nào mà “đĩ” như chính quyền việt nam hiện tại. Dựa hơi mà cũng không biết dựa hẳn bên nào cho trót. Lá mặt lá trái như thế bảo sao quốc tế nó không khinh?

Còn dân việt nam thì sao? Dám cầm súng đánh TQ hay đánh bất cứ thằng nào xâm lược việt nam nữa không? Mà cầm súng để làm gì? Kết quả của gần 40 năm độc lập, ai cũng thấy cả rồi, không cần nói nữa.

Và cả bọn hèn hạ chúng ta đang ôm lấy nhau, hồi hộp chờ đợi hồi chuông báo tử.

* * *

Bổ sung:

Sau khi bài này được upload, tôi nhận được khá nhiều comments và cả message. Không biết phải đánh giá như thế nào về những comments hỏi ngược lại tôi với một thái độ khinh khỉnh, qua nhiều câu chữ khác nhau, nhưng đại khái cùng 1 ý: "Vậy bạn có hèn không?". He he...

Tôi chỉ muốn nhấn mạnh lại 1 điều, suốt cả bài viết, tôi không gọi những người hèn là "các bạn", tôi gọi là "chúng ta". Như vậy có dễ hiểu hơn chưa nhỉ?

Tôi không thích tự nhận hay gán ghép. Tôi chỉ nói lên những suy nghĩ của mình, còn đánh giá tôi hay đánh giá chính mình, các bạn cứ tự làm lấy. Thiết nghĩ, đâu cần phải tranh luận chuyện ai hèn, ai không hèn ở đây! Biết hay không biết mới là quan trọng. Mà cái sự khổ sở để đi từ cái "không biết/ chưa biết" đến cái "biết" nó sẽ là một quá trình gian nan mà mỗi người phải tự thân trải nghiệm. Không ai giúp ai được đâu. Và tôi hiểu, cái "biết" của tôi nó cũng chỉ giới hạn trong tầm nhân sinh quan nhỏ bé của cá nhân tôi mà thôi. Còn bạn, hãy tiếp tục giữ lấy niềm lạc quan của bạn. Con cừu vẫn có được niềm hạnh phúc mỗi ngày được gặm cỏ non, uống nước suối, ngắm bầu trời xanh, chờ đến ngày xẻ thịt mà! Đúng không? Hạnh phúc vẫn khắp quanh ta! Những con cừu không biết "tự sướng", không biết "thủ dâm tinh thần" thì quả thực là ngu còn hơn... cừu! He he...

* * * 

Bổ sung tiếp:

"... Ông bảo xã hội nào cũng có những điều bẩn thỉu. Tôi công nhận điều ấy. Nhưng xã hội bẩn thỉu nhất ông có biết là xã hội nào không? Là xã hội mà thằng ăn cắp không cho rằng nó phạm pháp, nó đang làm điều xấu, người lương thiện thì run sợ, thằng bất lương lại coi việc nó làm là bình thường và kẻ vô liêm sỉ như ông thì vênh vang tự đắc: ta là số đông. Chính là xã hội này đây..." (trích comment@khongnoibiet). 

http://hanwonders.multiply.com/journal/item/513/513

Tổng Thống Trump, Hoa Kỳ trở lại thời vàng son?

… buông bỏ không đành, đeo đuổi ước mơ tái thiết sơn hà nên chi phải gác lại cuộc sống vương giả, ăn chơi ba đời không hết của, khổ thân giẫm lên muôn vàn chông gai sau trước. . .

Thù trong, giặc ngoài, tứ bề đầy dẫy gươm giáo. Đất nước như đang trong thời mạt vận, một mình chèo chống có xong không? Lúc đất nưóc Việt nam chỉ có mấy triệu dân mà còn có những người như Nguyễn Công Trứ. Lẽ nào một đất nước như Hoa Kỳ, có đến hơn 300 triệu dân trong thi hiện đại lại không có một người yêu nước muốn lập công?

Có danh gì với đất nước hay không thì chưa biết; và dù ưa hay không, ông Trump có lòng nhiệt tình yêu nước, quyết tâm tái thiết là điều không thể phủ nhận. Với tình thế nhiễu nhương đến thế, người cầm lái con tàu bị tổng tấn công từng ngày liệu có thể cỡi được cơn sóng dữ, tạo được thời thế không? Thế thời như thế, nếu đắc quả thì ra mới thật rõ mặt anh hùng.

Ai đã từng vào ra chốn thị phi nhất bực cao cấp, đã từng theo vết chân hoạt dụng tiền bạc mang lại lợi lộc từ chốn quan trường như thế nào mới biết đó là đâu. Điều quan trọng hơn cả là dám chỉ đích danh đó là chốn “đầm lầy”. Ông Trump thật cả gan, chỉ có một mình ông dám nói và dám đòi xả đầm (drain the swamp) – nghĩa đen là nơi sinh sôi nảy nở của bao nhiêu loài độc địa, hung dữ ăn nằm, khiến bá tánh bất an, còn nghĩa bóng thì bình dân dư sức hiểu.

Đời này có bao nhiêu người ngay, có thiện chí xây dựng đất nước, xã hội thì cũng có bấy nhiêu kẻ tham gian, ích kỷ, tư thủ quyền uy, địa vị và ngụy ngôn, đa trá. Tránh sao khỏi động chạm những kẻ lâu nay tắm mình trong đầm sân hận, ganh ghét? Cả Khổng Tử, nhà hiền triết được người đời tôn là Vạn Thế Sư Biểu, vì muốn truyền bá Vương đạo dạy người, tư tưởng trị nước, cải cách cho xã hội an bình thạnh trị mà còn phải đi lang thang chìm nổi khắp nơi trên dưới 20 năm, có khi bị đuổi xua, vây bủa đến khốn cùng đến độ phải than rằng: “Ai mà không phải đi qua cửa rồi mới rời khỏi nhà? Vậy mà sao không có ai đi theo đạo này?”. Điều tuy chí lý, nhưng đâu phải ai cũng chấp nhận. Nếu không thì làm gì có thánh nhân ra đời.

Ông Trump là người bình thường chỉ mang chí lớn, bạo gan đòi chặn đứng sự suy biến một cách quyết liệt và sửa sang lại xã hội, một xã hội đang trong ngoài phức tạp hơn ngàn năm trước, thì làm sao tránh khỏi bao nhiêu thế lực bủa vây?

Xưa nay, cái tốt thường khó làm nhưng dễ phá, ngược lại cái xấu ác dễ làm nhưng đã làm rồi thì đâu có dễ dọn. Chỉ vì mãi chạy theo tập thể đảng phái mà người ta coi thường hay quên đi lý lẽ bất biến ngay trước mắt mà thôi.

Ông Trump không nhận tiền “lì xì”, không lãnh lương và cũng không cần cào hốt tiền cống nộp của nước ngoài, cá nhân không chịu ơn ai nên không dễ bị khuynh loát và nhờ thế mà tự do bạo miệng, nói vào làm theo nghị trình của mình khi hứa với quốc dân. Điểm này đặc biệt hoàn toàn khác với đối thủ tranh cử của ông. Ông tuyên bố trong lời nhậm chức rằng sẽ giành quyền lực trả về tay người dân, sẽ đặt quốc gia và dân chúng Hoa Kỳ trên hết, sẽ làm mọi thứ để mang trở lại an bình, thạnh trị cho đất nước Hoa Kỳ như thời vàng son xứng đáng của nó. Cho đến nay, tất cả những gì ông đã và đang làm đều phục vụ chỉ có một tôn chỉ “Make America Great Again”.

Chuyện có thật, từ đầu năm đến nay hơn 7 tháng, có bao nhiêu tờ báo, hay đài TTDC nói đến thành công mà ông TT đã mang lại cho đất nước này, một đất nước sau 8 năm đã rơi vào suy bại, rắc rối tứ bề cả trong lẫn bên ngoài? Nhưng bình dân ai mà không thấy?

TT Trump thành công là điều đáng mừng hay đáng ghét? Và có nên để cho ông ta làm việc không?

Phải nói bình dân thì mừng, nhưng đám người “never Trump” không ưa và đặc biệt là hầu hết chính trị gia DC rất cay cú. Sống với đạo thường ngày ở đất nước có dân chủ, bình dân kêu gọi hãy tôn trọng dân chủ, hãy để cho ông ta có cơ hội rộng đường làm việc.

Từ khi có ông Trump xuất hiện trên chính trường, công việc chính của TTDC (truyền thông dòng chính) là chống phá trước bầu cử và quyết tâm đánh ngã TT Trump cho bằng được sau bầu cử. Đây không phải là điều đáng mừng mà là điều đáng lo vì sự thoái hoá rất nghiêm trọng của truyền thông trong chế độ tự do. Những kẻ mang lòng thù ghét được thoả mãn, nhưng quyền lực này không phải để sử dụng nhằm đạt mục tiêu tồi bại, đáng khinh bỉ như thế, bất kể đối với ông, bà TT dân cử nào, thuộc phe đảng nào.

Đâu phải ai cũng ưa Obama, nhưng khi ông đắc cử có đám CH nào, có ai bị xúi giục đánh phá suốt mấy tháng ròng từ đường phố, trường học, đến trong Quốc hội, hay đòi đánh sập Toà Bạch Cung đâu?! 

Ông Trump càng thành công, TTDC càng loay hoay tìm cách này hay cách khác, ra sức đả phá, ngụy biện chống báng cái thật cụ thể - không biết nói - chỉ tổ phơi bày sự vụng về, gượng ép, lố bịch. Chẳng hạn người của phe chống Trump cố ngụy biện rằng kinh tế lên, nhiều công ăn việc làm, thị trường chứng khoán lên vùn vụt… đều là do chính sách của Obama! Các cơ sở nhỏ trong các cộng đồng thiểu số hay các tay anh chị thuộc về đảng đối nghịch với ông Trump cũng vậy, dĩ nhiên họ cũng lựa bài bình luận của các chuyên gia “một bên”, dịch ra, thêm bớt, cho vào thiên kiến bè phái sao cho có lợi cho đảng mình rồi đăng lên báo hay phát thanh trên đài. Phóng viên thay vì có nhiệm vụ tường thuật việc xảy ra nhưng vì mục tiêu không lành mạnh họ đã ngu hoá quần chúng bằng cách lập lờ lằn ranh giữa thiên kiến cá nhân và sự thật. Tin giả không nguồn gốc, nguồn gốc không kiểm chứng tung lên liên tục, hết đợt này đến đợt khác nhằm hạ cho được uy tín, đánh cho TT rớt đài. Bao nhiêu lần lỡ bị phanh phui thì xin lỗi là huề, CNN, MSNBC, NYT, Wapo… đều như thế cả. Thật là bôi bác, tồi tệ chưa từng thấy. Người ta đã quên là thông tin bây giờ đã khác và cả thế giới đang nghĩ gì đến TTDC Hoa Kỳ! 

Vậy, bình dân bá tánh nên nghe theo phe chống Trump hay TTDC? Nếu không thì biết tin ai?

Poll à? Trong sự kiện quan trọng bậc nhất xảy ra cả một năm rưởi mà tất cả poll đều sai; có poll nào cho ông Trump thắng đâu? Bây giờ có lý do gì nó lại đúng? Đó là chưa kể lúc ấy người ta tranh giành, bây giờ ganh ghét còn gay gắt, tệ hại hơn: “Trâu cột ghét trâu ăn” hay thù ghét vì việc làm của ông động chạm đến điạ vị, tư lợi.  Hơn nữa, còn yếu tố khách quan khác như thời nay, phương tiện truyền thông không còn là chuyện thần thoại, nhưng cách làm poll vẫn còn theo lối cũ. Mặt khác, nền văn hoá HK bị đánh phá đến nát như tương, xã hội suy đồi, chia rẽ, du côn cùng tội phạm được thả ra khắp nơi; kể cả đạo đức giả trong giới áo quần bảnh bao, có ăn học, ăn nói lưu loát, làm văn, viết báo; bè phái, thiện ác, tà mị và lương thiện bất phân; bình dân bá tánh ất an, sợ vạ lây, nói dối để được yên thì làm sao có những poll trung thực? TT Obama tuyên bố thay đổi tận căn nước Mỹ, không biết xã hội sau 8 năm thay đổi như vậy đã đủ chưa. Đất nước HK đã bị đẩy vào giai đoạn xã hội phân hoá cho nên mới đẻ ra ông Trump thắng lớn chỉ vì ông quyết đeo đuổi mục tiêu: Make America Great again (MAGA) bằng lối nói thẳng, làm ngay, nói bạo, làm mạnh. Ai sống ở Hoa Kỳ lâu chắc đã thấy nước Mỹ, người Mỹ, xã hội Mỹ ngày nay khác với hai ba mươi năm về trước thế nào.  Đến đây có thể mượn bài viết của nhà văn Phan Nhật Nam: “Nước Mỹ Khốn Cùng... Thiệt!” để minh hoạ

Tốt hơn hết là nghe chính lương tri của mình – đó là tiếng nói của bình dân. Hãy xem, hôm nay ông Trump đến đâu nói chuyện, đều có mấy chục ngàn người sắp hàng cả ngày chờ đợi vào nghe và ủng hộ như trước khi đắc cử; tuy vậy bình dân cũng chẳng nên tin nếu tất cả bọn họ tức là người ủng hộ TT đều ngu. Cơm áo, gạo tiền và sự an bình của người dân là trên hết chứ không phải những trò đấu đá chính trị tranh giành quyền lực bất chấp hậu quả mang lại suy đồi xã hội!

Thành công trong nửa năm đầu làm việc của TT Trump:

Vừa qua trên Fox News, specialist show, ông Bolling đã tìm thấy ông Trump đã sửa chữa hầu hết những điểm sai hỏng trọng yếu của chính phủ Obama, nói trắng ra là quét sạch hầu hết gia tài cấp tiến của Obama. Ông Neil Cavuto cũng đã phê bình tạp chí Newweeks tồi bại khi đang hình ông Trump trang bìa cho rằng TT Trump đã thất bại hoàn toàn như một đứa trẻ lười (Lazy Boy) từ 60% đến 40% đến Zero%. Bình dân ai mà không thấy sự thù ghét đến mức độ đốt cháy tâm can, khiến người ta điên cuồng đến mức không còn biết xấu hổ. Tạp chí này chắc không cần độc giả; chỗ chứa trong đầu óc con người có giới hạn, và cũng không phải là nơi đổ rác. Neil Cavuto hiện là phó chủ tịch chính sự và điều hành biên tập tin tức kinh doanh cho đài Fox News (FN) (Show Your World with Neil Cavuto)  và Fox Business Net Work (FBN) (ShowCoast to Coast) trên 20 năm, người chuyên phân tích kinh tế thị trường trên Fox Business. Ông cũng từng làm việc trên các đài tả khuynh nổi tiếng như CNBC, NBC, PBS. Sau lời phê bình ông đã lược ra một danh mục thành công dễ thấy mà ông nói chỉ cần 3 phút. Mặc kệ TTDC không thấy hay không chịu thấy, riêng bình dân cũng thấy:

Về Kinh tế: Những điều này không phải là fack news:

Xoá bỏ rào cản hàng ngàn qui luật trói buộc kinh tế một cách ngoạn mục. Những trói buộc này hầu hết do lý thuyết “Hâm nóng địa cầu – Thay đổi khí hậu” - đều do tay con ngưòi làm ra mà không thấy nói gì về ảnh hưởng của Thái dương hệ. Các đầu ngành kinh doanh rất hoan nghênh chính sách kích thích tăng trưởng kinh tế của TT.

Toyota, Mazda thay vì xây dựng ở Mễ, họ đã xây cơ sở 1.6 tỉ tại Hoa Kỳ, thay vì  Mễ, tạo 4000 công việc làm

Foxconn sử dụng 10 tỉ xây dựng nhà máy ở Wisconsin và trong cùng ngày được báo 209 ngàn công việc trong tháng 7.

Hơn 1 triệu công việc làm trong 6 tháng (tháng 1- 6) vừa qua. Cãi chày cãi cối rằng nhờ chính sách của Obama không đánh ngã nỗi câu hỏi của bình dân:  Khi bị trói chân, con vật có còn hoạt động hiệu quả như đồng loại không? Và khi thả ra thì như thế nào?Từ khi mới nhậm chức ông Trump đã ký rẹt rẹt hủy bỏ hàng ngàn qui luật ràng buộc kinh tế của Obama để làm gì? Chắc không phải vì ghét Obama đấy chứ?

Tỉ lệ thất nghiệp giảm đến mức thấp nhất  trong vòng 28 năm qua: 4.3% trong tháng 7 2017

Lần đầu tiên ngành công nghiệp mỏ than ở PA hoạt động tích cực lại ở Pensylvania thêm 500 việc làm

Người dùng tem thực phẩm giảm 4%. Trong thời kỳ Obama con số này gia tăng gấp ba lần. Sự giảm nhờ nhiều người đã có việc làm, ra khỏi vũng sình, và số khác man khai sợ tội mà rút tên.

4 ngàn tỉ dollars đầu tư ào ạt đổ vào thị trường. Những ai có 401K đều biết rõ (xem thị trường chứng khoán tiếp tục gia tăng không đếm xỉa đến việc TT bị đánh phá.

Dịch vụ Cựu chiến binh dọn sạch sẽ những đối xử bất công đã bỏ mặc, không chăm sóc đầy đủ, coi rẻ cựu chiến binh trong thời kỳ Obama và lập chính sách lần đầu tiên chia xẻ thông tin. (Mecical records shared)

Rút chân khỏi TPP (Trans-Pacific Partnership) - Hiệp ước thương mại thái bình dương bất lợi cho nhân công Hoa Kỳ.

Rút chân khỏi Hoà ước Thay đổi khí hậu Paris (Paris Climate Accord) tránh đe dọa sự phát triển kinh tế Hoa Kỳ. Algore đã tuyên bố rằng nếu không làm gì thì 10 năm nữa địa cầu hết cứu! Đã 10 năm hơn mà không có gì xảy ra mà chỉ thấy ông ta giàu sụ và có nhà to ở bờ biển! Một số xướng ngôn viên Việt Mỹ không biết đã nghiên cứu đến đâu cũng cảnh báo rất nghiêm trọng khiến có lần bình dân bà con người Việt chúng ta sợ Việt nam sẽ bị ngập chìm trong biển nước, nhất là lo cho bà con mình đang ở bên kia bờ đại dương! 

Ký những giao dịch mới,và đàm phán chỉnh tu giao dịch thương mại cũ với các nước đã từ lâu hưởng lợi bất công trên sự thua thiệt của Hoa Kỳ mà ngưòi tiền nhiệm không hề quan tâm: Mexico, Trung cộng, Canada và Nam hàn; và ký những hiệp ước thương mại mới. Đây là điều mà TTDC tấn công trong đó có Newsweek. Truyền thông tỵ nạn có người ăn theo cũng cho rằng Trump ngu khùng, tự cô lập, trước khi ông mới đề xướng Ưu tiên cho quyền lợi ngưòi Mỹ (American First). Sự thật rất đơn giản, không có gì mới mẻ vì đó là điều mà bất kỳ lãnh đạo nào cũng tranh thủ cho dân mình, nhưng chỉ vì không biết nói đúng thời điểm mà thôi!

Phê chuẩn xây dựng Đường ông dẫn dầu đã bị Obama ngăn chặn.

Ngành sản xuất dầu của Mỹ tăng trưởng hàng ngày sản xuất 500 ngàn thùng dầu

Niềm tin của người tiêu thụ lên đến mức cao nhất trong 16 năm. Tâm lý thị trường cũng là một xúc tác không kém quan trọng kích thích nền kinh tế (psychology impact), ngoài nguồn vốn, thị trường, sự điều hành và đặc biệt là chính sách kinh tế của chính phủ.

Rõ ràng chính sách kinh tế của ông Trump bắt đầu có hiệu quả và đây cũng chính là đe dọa to lớn đôi với phe chống đối, tranh giành quyền lực. Những lời nguỵ ngôn, gièm xiểm và việc làm quấy rồi sẽ được phơi bày ra ánh sáng. Đánh phá tìm mọi cách để hạ ông Trump cho bằng được là chuyện dễ hiểu như trò chơi thường ngày của trẻ con. Cho dù biết rằng thù ghét là ngọn lửa tàn phá tất cả những gì cao đẹp mà thượng đế đã ban cho mỗi con người, người ta cũng không bỏ; càng bị thiêu đốt, con người càng nảy ra nhiều mưu ma chước qủy để tự thoả mãn. Nhưng làm gì đi nữa, sự thật rốt cuộc vẫn cứ y như chính nó.

Về Bảo quốc an dân:

Không cần phải nghiên cứu tìm lời nói của chuyên gia thuộc phe mình, bình dân cứ nhìn thực tế cũng rõ

Di dân bất hợp pháp: Trong 8 năm qua, Obama có chính sách “Bắt rồi Thả” (Catch and Release ) tức là bắt người nhập lậu ở biên giới hỏi họ muốn đến thành phố nào – dĩ nhiên là thành phố bảo hộ - và cho họ đến nơi họ muốn (ông Session đã trần tình). Thời ông Trump, đã xóa bỏ chính sách kỳ lạ ấy, và giở cẩm nang - luật di trú có sẵn ra thi hành chứ có phát mình gì mới đâu. Chỉ mới mấy tháng mà dân vượt biên, nhập lậu giảm đến trên dưới 70%. đội ICE (Cảnh sát Di Trú  và Hải quan / Immigrations and Customs Enforcement) đã thi hành luật lệ, cũng là luật có sãn chứ có mới mẻ gì đâu, ráo riết bắt và trục xuất tội phạm khắp nơi. Ai không phải là tội phạm thì không có gì phải lo sợ mà làm càn để bị gánh tội vì nghe lời hù dọa của những nhóm chống chính phủ.

Đối với băng đảng lớn:

 MS-13 hoạt động khắp nước và xây dựng vòng đai khắp các nước Trung Mỹ (Central America). Nhóm này khởi nguồn từ các cộng đồng di dân ở Los Angeles vào thập niên 1980s và bắt đầu lập vòng đai sang các nước Trung Mỹ sau khi thủ lãnh bị trục xuất. Chính phủ trước không đá động đến tổ chức này. Nay Bộ Tư pháp dùng quyền lực và luật lệ - cũng là thứ có sẵn trong phạm vi cho phép, xúc tiến truy lùng. Hôm 27/5/17 Bộ trưởng Tư pháp Session sang tận El Salvador để tìm hiểu và hợp tác tổ chức để giải trừ băng đảng này.

Đối với thành phố bảo hộ: Một số thành phố Bảo hộ đã ý thức lẽ phải, hợp tác với chính phủ liên bang. Một số khác vẫn còn chưa chịu hợp tác với lý do cho rằng việc bắt tội phạm hình sự - người bất hợp pháp làm cho thành phố họ kém an toàn. Có thật vậy không? Đây là chuyện hết sức lạ lùng nhưng có thật; ở Mỹ có loại thành phố gọi là Bảo hộ nhận tiền thuế của liên bang hàng tỉ dollars để - dung dưỡng, bảo vệ di dân bất hợp pháp tránh luật di dân của chính phủ liên bang. Chính phủ Trump thu hồi và đòi thu hồi ngân sách này nếu các tiểu bang hay thành phố không chịu hợp tác, hay không tuân thủ luật an ninh di trú của liên bang. Bình dân tự hỏi chính mình xem có bao nhiêu người làm việc chăm chỉ cúc cung đóng thuế ủng hộ chính sách này của quí vị DC?

Nhân đây một tin mới liên quan đáng chú ý  để bình dân có cái nhìn xã hội Hoa Kỳ ngày nay:  Mới đây, ở thành phố bảo hộ Portland dĩ nhiên là do Thống đốc và Thị trưởng DC điều hành đã thông qua luật tuyên bố thành phố bảo hộ cho di dân bất hợp pháp.  Sergio Martinez, người đàn ông 31 tuổi đã 20 lần bi trục xuất trong mấy năm qua đã từng phạm tội cướp nhà bank, bắt cóc, và sách nhiễu tình dục. Có lần tấn công một phụ nữ 65 tuổi  tại nhà, người phụ nữ khác bị tấn công tại nhà xe ở chung cư. Theo ICE năm 2008 ông này bị trục xuất 13 lần và đã có kỷ lục tội phạm liên tục ở cả ba tiểu bang. Sergio Martinez bị giam ở quận hạt Multnomah. ICE yêu cầu cảnh sát ở đây thông báo khi Martinez được thả nhưng cánh sát không tuân thủ. Trái lại, một tháng sau khi Matinez được thả cảnh sát quân Multnomath, điều tra nhân viên đã liên lạc với ICE. Trong cùng thời điểm ấy, một quan toà chừa ngõ cho người di dân bất hợp pháp lẻn ra sau trốn thoát ICE theo cửa dành cho nhân viên. Sau đó quan toà này được xem là không làm sai! Cố vấn của thành phố bảo hộ Portland được thưởng 50 nghìn dollars cho công trình giúp di dân bất hợp pháp chống trục xuất và những vấn đề thuộc luật pháp!

Thực tình mà nói, bình dân không hiểu nổi tại sao DC bảo vệ di dân bất hợp pháp kể cả dân vừa bất hợp pháp vừa là tội phạm mà chống lại luật Liên bang, và câu trả lời trung thực là gì?

Di dân hợp pháp:

Sắc lệnh tạm ngưng nhận di dân từ 6 nước Iran, Libya, Somalia, Sudan, Syria và Yemen để chính phủ có thời gian tìm cách sắp xếp, thanh lọc thật gắt gao  và hợp với tình thế khủng bố. Dù các ông toà tả khuynh và TTDC, thêm một số đài Việt ngữ cấp tiến, tả khuynh, kẻ ngăn chặn, người tuyên truyền xuyên tạc rằng sắc lệnh của ông Tump phi pháp, vi hiến vân vân. . . Sự thật đã rõ sắc lệnh hợp hiến, hợp pháp 9/0 do TCPV đã phán. Tả khuynh đã thắng được gây trở ngại, chậm trễ việc thi hành. Nhất là ông toà Derrick Watson ở Hawaii, một lần gây ách tắc vì tự tư diễn dịch lời vận động của ứng viên Trump thay vì theo Hiến pháp, vẫn chưa chịu thua. Ông này bèn đưa ra yêu cầu chính phủ phải tiếp nhận thân nhân của ngưòi ở Mỹ, ngoài cha mẹ, vợ chồng, con cái và vợ chồng hay fiancés còn thêm cả ông bà nội ngoại và cháu chắt của họ, anh chị em, dâu rễ, cô, dì, chú, bác, cậu, cháu gái, trai và con cháu của họ (cousins). . . Bình dân nào đã từng trải qua chương trình bảo lãnh ai mà không lắc đầu mới là lạ! Kết quả chữ thân nhân thật (bona fide relationships) mà Tối cao Pháp viện nói không phải kéo hết 3 họ kể cả thông gia sang Mỹ! Ông toà đấy nha!

Quốc Phòng:

Bắc hàn: Thành công bước đầu:

Vừa qua, thứ Bảy 5/8/2017 Hội đồng Liên hiệp quốc đã bầu thông qua nghị quyết cấm vận kinh tế đối với Bắc Hàn sau những đợt thử hỏa tiễn đe dọa Hoa Kỳ và đồng minh. Cấm vận có thể lên đến 1 tỉ dollars xuất cảng. Bây giờ đã rõ chính phủ Trump không phải chỉ ra đòn hù dọa vụng về đối với BH như một anh nhà báo tỵ nạn phe ta đã từng viết. Binh cơ hư hư thực thực, không biết gì thì tốt hơn hết là đừng võ đoán, nói bừa; không ai cấm phát biểu ý kiến nhưng  cũng nên tử tế với độc giả một chút để khỏi mất mặt người Việt.

Một kẻ như cuồng điên, độc tài coi trời bằng vung (Kim J Un), đàng sau là một trùm sò thủ lợi (TC). Trò này khó gạt được một tay thương trường lão luyện cùng với một dàn tướng tầm cỡ thế giới. Có khi ngoài yếu trong mạnh, ngoài mạnh trong lập lờ khó đoán mà Trump thường gọi là khó lường (unpredictable). Có chích cho nọc độc xì ra thì mới biết ngõ chữa, và nay đã rõ, BH không còn bao lâu nữa sẽ có vũ khí mong đợi mà BH coi như điều kiện để sống còn; hoặc đã có đầu đạn ở mức độ nào đó. Sự thật, việc giải quyết vấn nạn này kể như đã khá trễ. Quyết tâm giải quyết dứt khoát của chính phủ Trump bằng hành động bủa vây và tuyên bố cứng rắn đã đẩy tất cả UN kể cả Nga, TC vào cùng toa tàu và nhất trí 15/0 với Nghị quyết cấm vận BH số 2371. Lời tuyên bố  dứt khoát của chính phủ Trump “chiến lược kiên nhẫn không còn nữa”, “TC không làm thì HK sẽ làm” đã thật sự có kết quả, và hy vọng đây là bước đầu chấm dứt 25 năm thất bại của các đời TT đối với vấn đề BH.

Đây là thành công vượt bực của chính phủ American First! Uy thế và vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ bắt đầu trở lại. Có khác với 8 năm qua không? Trump khùng nay chắc đã hết bịnh! Tuy vậy, đây mới chỉ là bước đầu, thành quả đến mức nào còn tùy thuộc vào sự thực thi nghị quyết của các bên liên hệ, nhất là những nước làm ăn với BH, trước hết là Tàu. Tàu có thực sự hợp tác không là vấn đề chưa ai dám khẳng định, ngay cả TT Trump bỡi lẽ đơn giản nếu BH có vũ khí nguyên tử thì Tàu thủ lợi nhiều nhất vì nước nhỏ, anh em CS ở tiền đồn, cùng biên giới. Chính phủ Trump sẽ đeo đuổi đến kết quả cuối cùng là BH phải từ bỏ con đường vũ khí hạt nhân. “Tất cả mọi chọn lựa hãy còn trên bàn” - nghĩa là kể cả biện pháp quân sự, Bà Đại sứ UN của Hoa Kỳ, Nikki Haley đã tuyên bố thẳng thừng.

Không riêng gì Hoa Kỳ, thế giới đang đối diện với nguy cơ hủy diệt bằng nguyên tử của kẻ sống ngoài qui luật toàn cầu. Đây là một phần gia tài lớn mà TT Trump phải gánh như cây độc đã ra trái và trái độc đã chín mùi không hái không được, không đốn không xong!.

Thời TT Clinton: Người viết sử chắc sẽ không quên, cây độc đã tưới nhầm bằng cái thoả hiệp 4 tỉ dollars trong 10 năm, do TT Clinton ký vào ngày 18 tháng 10 năm 1994. Lúc ấy thiên hạ vỗ tay hoan hô nhiệt liệt sau lời tuyên vố của cựu TT “Hiệp ước này tốt cho HK, tốt cho đồng minh,và tốt cho sự an toàn của toàn thế giới”; “Đây là bước quan trọng nhằm lôi kéo BH vào cộng đồng thế giới”. Nhưng thay vì đóng băng chương trình, BH có tiền tiếp tục công trình sản xuất vũ khí.

Thời TT Bush con tuyên bố : “Iran và BH là trục tai hoạ”  (axis of evil) và ông đã bị TTDC chỉ trích. Chính phủ HK đã cấm vận BH; Ngoại trưởng Condoleezza Rice cầm đầu xúc tiến kế hoạch đàm phán 6 bên gồm HK, TC, Nga, Nhật, Nam và Bắc Hàn, và cũng đã cấm vận. 13/2/ 2007 BH chịu đóng lò phản ứng nguyên tử để đổi lấy viện trợ 400 triệu do các nước cung cấp. Nhưng rồi BH thói nào tật nấy, tiếp tục ký rồi tiếp tục vi phạm các nghị quyết và 6 bên tiếp tục làm việc. Vào cuối nhiệm kỳ của TT Bush (tháng 12/2008), lựa lúc Mỹ thay đổi lãnh đạo HK, BH thật sự trở mặt không cho thanh tra quốc tế vào xem xét.

Đến thời Obama: càng lỏng lẻo, xìu ễnh hơn, không tiếp tục siết vòng 6 nước cho đến ba năm sau, ngược lại BH càng được cơ hội gia tăng hoạt động mạnh hơn. BH thử vũ nguyên tử 3 lần, trong 8 năm có một lần 29/2/2012 BH đồng ý đình hoãn việc phóng hoả tiễn tầm xa và hoạt động nguyên tử để đổi lấy viện trợ lương thực (food aid). Nghĩa là hết lương thực, tạm đình để chờ lương thực tới, ăn no rồi làm tiếp. (các mốc thời gian làm việc xìu ễnh ở phần phụ đính cuối bài).

Thời TT Trump: Và kết quả sau cùng là gia tài mà ông Trump đang phải thừa hưởng như đã nói là không còn có thể theo lối chính trị hủ lậu, lỗi thời của người đi trước được nữa. BH liên tục thử hoả tiễn và đe dọa. TT Trump tuyên bố, khi ngồi ở thế thủ, khoanh tay như xem đối thủ giở trò gì:  “BH tốt nhất đừng nên tiếp tục đe dọa HK. Họ sẽ chạm đến hoả lực và sự ác liệt mà thế giới chưa từng thấy . . . [Kim Jong Un] hắn đã từng đe doạ vướt quá mức bình thường. Họ sẽ  chạm đến hoả lực, sực ác liệt và thành thực mà nói sức mạnh mà thế giới chưa từng thấy trước đây”. Sau đó BH, tiếp tục tuyên bố chuẩn bị tấn công đảo Guam.

Những chính trị gia, nhất là kẻ đã từng khinh miệt và chống đối lão TT Trump từ phía CH, cả đa số DC và TTDC chỉ trích ngay, Cũng như bao nhiêu lần trước MSNBC tấn công, NYT, CNN cho rằng TT ứng khẩu tùy hứng (extemporaneous), và mượn lời ai đó làm chuyên gia chỉ trích rằng ông Trump hiếu chiến (bellicose) và bảo nên bình tĩnh dịu giọng để tránh xung đột! Nghĩa là nên vâng lời Bắc kinh, kiềm chế lời lẽ và hành động y như toa thuốc Tàu chữa bệnh ngu hơn hai mươi năm nay! …”. Hai mươi lăm năm tốn bao nhiêu chữ kỳ, bao nhiêu nước bọt và tốn bao nhiêu tiền, kết quả là đất nước sắp nổ tung mà chưa có bài học nào sao? Có chừng ấy mà kém thông minh đến độ nhận không ra.! Không thay đổi chiến lược, cứ thế mà làm thì đâu có khác gì ‘gà què ăn quẩn mãi chung quanh cái cối xay cùn?

Bình dân thấy gì? Ai cũng nên tôn trọng cái ghế cuả qúi vị dân cử, nhưng không thể không nhận thấy một số không ít , họ học rất thuộc bài chính trị, quen lối phải đạo chính trị đến không cần suy luận, không biết chơi cờ, không biết chữ tùy thời, tùy cơ! Tưởng rằng đồ thật nhưng cũng chỉ là đồ dỏm ít nhất là về mặt này. Đối với một tên ngông, không cần biết lý lẽ, “như không hiểu ngôn ngữ ngoại giao”- theo lời của ngoại trưởng Rex Tillerson, không hội nhập với  cộng đồng nhân loại mà đem lời dịu dàng để khuyên nhủ. Như thế nếu không nói dốt hay ghét ông Trump quá hoá ngu thì có thể nói không khác nào mấy con mọt sách vô tích sự! Cũng chính vì hủ lậu không biết tùy thời, tùy đối tượng mà hơn hai mươi năm liên tục thua một kẻ cuồng!

Sự thật so về vũ khí dù sao thì BH không thể sánh với HK, nếu chọi nhau thì trong chớp mắt ai sẽ ra tro bụi? Rõ ràng hắn đang ở thế yếu báng mà mạnh nghênh. Rõ ràng ràng như ván bài lật ngữa 2+2=4 thì ngu gì mà để hắn đe dọa và nuôi ảo tưởng chiến tranh? Hắn nuôi mộng tấn công vì chưa hiểu sức của ta như thế nào. Không đe, không làm cho hắn biết, đến khi hắn làm ẩu vì lầm lạc không phải là sẽ hối tiếc sao? Nếu có thể thì mời hắn đến xem kho vũ khí một lần, xem hắn có còn say thuốc súng không. Hắn đe dọa một, ta đe dọa mười như một cái tát tai nẩy lửa để cho hắn thức tỉnh mà nhìn kho vũ khí của ta to lớn và lợi hại thế nào và chọn lựa của hắn ngu ngốc đến cỡ nào. Phải lấy cái búa tạ ra đe lại cái búa liềm múa loạn kia chứ.

Điềm mấu chốt để giải quyết vấn để là cho hắn biết thực lực và hậu quả trước để tự hắn chọn lựa lui hay tiến chứ không phải tiếp tục ngăn trở hắn rồi ngối chờ kiểu câu cá không móc lưỡi câu như xưa nay mà được.

Qua lời đe doạ cứng rắn, ông Trump quả thật đã nhận ra điều này. Ông Trump đã hoàn toàn đúng vì thứ nhất, là dịu giọng hơn hai mươi năm không làm hắn lay chuyển nhất là từ khi hắn chưa có vũ khí. Lặp lại cách làm không có hiệu quả hoài hoài có phải là đồ ngu không? Một thứ thuốc uống hoài không hết bịnh thì phải đổi chứ!  Thứ hai, khi đã cho hắn thấy rõ những con bài đã lât ngữa thì hắn có còn “tố” nữa không? Dịu giọng chỉ là cách vuốt đuôi thú dữ trong thời điểm và hoàn cảnh không thích hợp. Lời nói của ông Trump kể như đã để lên bàn cho hắn thấy kết quả trước khi hắn chọn lựa không phải là cách tốt nhất trong vàn bài cuối cùng sao? Nghe như chiến mà không chiến. Đẩy cho kẻ địch thấy cửa tử và mở một cửa sinh. Chờ xem hắn chọn cửa nào? Chính vì vậy mà một mặt Trump quyết cứng rắn, Nhưng Ngoại trưởng Tillerson và Bộ trường Q. phòng Mattis lập lờ như không cùng thuyền với TT, để cho thấy còn cửa hậu cho BH. Nhưng TTDC chỉ biết chỉ trích là làm việc không thống nhất! Như thế có vui không?

Ông Trump đã chọn kế hoạch tiền thật hung để có hậu kiết; làm ngược lại với chọn lựa tiền kiết để lãnh hậu hung của những người đi trước. Kết quả không phải ở trước mắt rồi sao?!

 Binh dân nhất định tin ở mình, không thèm nghe lời nhận xét thiếu thiếu yếu tố thời điểm, tình thế, thực trạng của vấn đề và đối tượng trong cuộc cờ. Thời khoa học tiến bộ, bình dân lại bị bỏ quên. Nói chuyện với bình dân sống chân chất cùng lẽ phải thông thường để giữ đạo còn hơn chạy đua với tài ngụy ngôn giả trá.

Thù trong giặc ngoài. 

Bình dân lại nói ôngTrump làm việc rất khó khăn vì có thù trong hay có giặc ngoài? 

Có thù trong một phần vì ông Trump đã cả gan đòi xả đầm, phần khác quan trọng hơn mà người ta gọi bằng một từ ngữ mới đã khá phổ biến là “deep state”, tạm gọi là “chính phủ ngầm” tức là những tay chân của chính phủ cũ còn lại kiểu nằm vùng đánh phá, bắn tin ra TTDC bất chấp ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, miễn là đánh ông Trump cho thân bại danh liệt, chính phủ không còn hoạt động được. Kết hợp với mặt khác DC ngăn trở từng bước đi, ngay cả việc bổ nhiệm các ban ngành, DC cũng cố tình kèo dài thời gian để chinh phủ khó bề day trở, làm việc không hiệu quả. TTDC luôn nổi trống kèn tấn công chỉ trích. Kể như ba mặt giáp công. Đây không phải là nội thù thì gọi là gì? Washington Post thường xuyên có những thông tin “dấu tên”, giả giả thật thật. Mới đây, ngày 3 tháng 8 vừa qua tờ Washington Post đăng nguyên phiên bản điện đàm của TT Trump và TT Mễ  Penã Nieto và Thủ tướng Úc Turnbull. Lịch sử truyền thông xưa nay chưa từng thấy những chuyện ảnh hưởng xấu đến quốc gia tới mức này, không những trong nước mà làm phương hại đến nước ngoài. Ông Session, Bộ tư pháp không còn ngồi yên được nữa; ông đã ra lệnh điều tra để truy tố! Như vậy đây không phải cái đầm đầy dẫy nội thù như ông Trump nói thì còn là cái gì?

Giặc ngoài bình dân ai cũng biết. 8 năm qua, ở Biển đông TC đòi chủ quyền và ráo riết xây dựng biển đảo thành cơ sở quân sự, BH quyết tâm sản xuất vũ khí hạt nhân, Kim J Un hàng ngày đe dọa tiêu diệt HK; Iran được khối tiền cash và giao dịch về giấc mộng vũ khí nguyên tử thời Obama mà TT Trump cho là một giao dịch thất bại tồi tệ, có thể dễ dàng cho Iran đạt được mục đích. Iran lúc nào cũng hô “Diệt Mỹ”. Nay rất có thể còn có thêm Nga vì Lưỡng viện quốc hội dù muốn hay không đã tạo ách tắc trên đường mở lại quan hệ với Nga qua luật cấm vận vừa qua

Thất bại: Thật ra đây có phải là thất bại như người chống ông Trump mong đợi không?

Sắp xếp nội bộ:

Nội bộ tuy có thay người liên tục nhưng không phải là rối mèm như người ta tưởng. Không riêng gì ông Trump, một ông chủ cơ sở kinh doanh lớn và dày kinh nghiệm mấy mươi năm vô ghế TT dân cử dĩ nhiên phải cần chút thời gian để hội nhập với tổ chức nhân sự và phân công phân nhiệm phức tạp của guồng máy chính quyền. Tuy vậy không có gì ghê gớm như người ta tưởng WH sắp sập. Kinh nghiệm thương trường sẽ rất hữu ích trong lãnh đạo chính quyền. Chắc chắn sẽ hơn ngưòi chưa bao giờ điều hành một tổ chức nào cho dù là luật sư hay am tường chính trị nổi tiếng.

Trong kinh doanh, thời gian là yếu tố rất quan trọng “Time is money”.  Nếu nhìn bằng cặp mắt kinh tế, tạm gác lại tình cảm, chuyện thay đổi người để làm việc có hiệu quả tối đa là chuyện rất thường tình trong kinh doanh. Hơn nữa ông Trump có biệt danh là “You are fired” không phải sao? Thấy làm không có hiệu quả là ông thay liền. Khi đã biết điều này mà còn hô hoán là White House rối loạn, khủng hoảng (chaos, crisis) hay không biết làm việc, thì quả là đã bỏ qua một chi tiết rất quan trọng của vấn đề.

Ngay cả việc thăng chức Trưởng ban điều hành nội các cho tướng John Kelly ông Trump đã chuẩn bị mở đường, nói chuyện với Tướng Kelly từ tháng Năm. Khi từ chức, ông Priebus, Chief of Staff phát biểu “Đây là một trong những vinh dự lớn nhất của đời tôi để phục vụ Tổng thống và đất nước chúng ta. Tôi muốn cảm ơn TT đã cho tôi cơ hội rất đặc biệt này. Tôi sẽ tiếp tục phục vụ như một người ủng hộ mạnh mẽ cho chương trình nghị sự của TT. Tôi không thể nghĩ ra một ngưòi tốt hơn Tướng John Kelly để thay thế tôi và tôi chúc ông ấy được ơn phước và thành công to lớn”. Trả  lời Fox News,Priebus nói:“Tôi sẽ luôn ở trong đội ngũ của Trump”, “…Khi cùng nhau trải qua chuyện lớn nhỏ người ta sẽ thật sự hiểu nhau, và ông là người tốt tôi hãnh điện được phục vụ cho ông”, “Tôi cảm thấy hoan hỷ với thực tế thay đổi để ông ta yên tâm tiến bước”. Ông còn cho rằng việc buộc tội ban vận động của ông Trump và Nga là một “trò cười”. Trả lời với CNN, “Ông Trump có thiên khiếu chính trị tuyệt vời. Ông ta hểu biết, tôi nghĩ, một cách trực giác khi cần thay đổi. Ông ta đã trực giác xác định đã đến lúc làm việc một cách khác hơn và tôi nghĩ điều đó đúng.” … 

Ngoài ra, người ta bầu cho ông Trump để làm việc chứ không phải để ra vô xìu ễnh, phải đạo chính trị. Người ta bầu cho người hứa đập những cong queo, và tháo nước đầm (drain the swamp) thì chuyện đuổi người và liên tục sửa đổi đâu có gì lạ. Không làm như thế thì đâu còn là drain the swamp nữa!

Quan hệ với Nga: Chiến dịch thổi khói mù và sự cuốn theo chiếu gió. Thực sự ai đã thất bại. 

Nga là cường quốc nguyên tử đáng gườm đối với Hoa Kỳ. Putin là người sành sỏi, cứng rắn và nguy hiểm, không dễ hàng phục hay trở thành bạn trung thành, nhưng không phải vì thế mà cắt đứt quan hệ. Cắt đứt quan hệ và cứ trừng phạt gắt gao chỉ chuốc thêm hoạ chức không thể mang lại phúc vì chắc chắn sẽ tạo thêm một kẻ thù thuộc loại nguy hiểm, khó lường. TT Trump, hy vọng sau khi nhậm chức sẽ chữa lại quan hệ với Nga, chia xẻ lợi ích công bằng để cùng nhau giải quyết những bãi sình còn mắc kẹt ở Trung đông – Syria, Asad và ISIS mà chính quyền Obama đã để lại. Nhưng, ngay sau khi DC thua cuộc bầu cử thì Obama mới vội vàng giở quẻ, đuổi các nhà ngoại giao Nga và tịch thu hai cơ sở, tức là rấp đường không cho Trump bắt chước bà Clinton đem tặng Nga đồ chơi -  cái “reset button” mới! Thua đau, DC và TTDC thổi khói mù mịt chuyện Nga xâm nhập bầu cử, rồi thổi tiếp theo cáo buộc bọn ông Trump “thông đồng” trong khi không có chút bằng chứng gì và kết quả bầu cử không có chút ảnh hưởng nào của Nga. Nay tìm được một vết, mai tìm được một dấu do những tờ báo chống Trump NYT, Wapo, CNN, từ các nguồn tin không kiểm chứng, có cả tin giả  nhưng rốt rồi sau khi điều tra, hoá ra toàn là đồ dỏm, không có miếng nào vừa với cáo buộc “thông đồng”. Cái giả nói mãi có khi người ta tin là thật và rốt cuộc ông Trump không còn đường chọn lựa nên phái ký phê chuẩn luật cấm vận ba nước bỏ chung làm một: Nga, Bắc Hàn và Iran. Bỡi luật đã thông qua với tỉ số bất khả phủ quyết (veto): Hạ viện: 419/3; Thượng viện 98/2.

Như vậy chiến dịch thổi khói mù đã thắng là khiến người ta cuốn theo chiều gió. Đến nay tuy đã tốn bao nhiêu thời gian và bao nhiêu tiền thuế vẫn không thấy có bằng chứng gì về “Nga xâm nhập và thông đồng” khiến cả hai bên DC cũng như CH đều lo sợ, không dám cả quyết bước kế tiếp nên cùng nhau thông qua luật cấm vận Nga. Sau này nếu tìm thấy không có gì thì cùng lắm là cùng huề, và vì vậy TT Trump đã thua. Không, phải nói chính xác là CẢ NƯỚC ĐÃ THUA vì TT Nga, Putin ra lệnh trục xuất hàng trăm nhà ngoại giao Mỹ và tịch thu hai cơ sở của HK. Đó là chưa kể những vần đề cần góp tay giải quyết để sớm vãn hồi hoà bình cho các vùng đang tham chiến và có nguy cơ ách tắc. Ông Trump cùng lắm chỉ làm việc 4 hay 8 năm, còn hậu quả tồi tệ xảy ra cho nền an ninh Hoa Kỳ hay thế giới vô tình đã biến Nga thành kẻ địch sẽ thuộc về luật do cái đầm lầy ở Washington như ông Trump đã nói.

Chắc chắn có người hả dạ vì đã chặn được TT quan hệ với Nga và hoan hô TT đã thất bại!  Nhưng sự thật đây là điều đáng mừng hay đáng lo? Liệu có cách nào gỡ được thế cờ bí cho QUỐC GIA do cuộc chạy cuốn theo chiều gió thổi lên từ câu chuyện Nga, Nga và Nga của Lưỡng viện quốc hội trước khi biết hư thực ra sao? TT Trump chưa bỏ cuộc và Ngoại trưởng Rex Tillerson đang cố gắng trổ tài hoá giải.

Tóm lại, trong nguyên lý trị nước có ba điều căn bản không thể thiếu như cẩm nang cho người lãnh đạo đất nước: Thứ nhất, quân đội phải mạnh để sẵn sàng đối phó với kẻ thù; thứ nhì lương thực phải đầy đủ để người dân được cơm no áo ấm; thứ ba là lòng dân tin tưởng ở chính quyền. Ông Trump kể như nổi trội hơn người tiền nhiệm vừa qua ở một điểm duy nhất; đó là đeo đuổi đường lối, chính sách rất thực tế - giữ lại những giá trị văn hoá, Hiến pháp quốc gia, phục hồi kinh tế, an ninh, quốc phòng tức là bảo quốc an dân, mang lại an bình thịnh trị cho đất nước; cóc cần đả phá hay xây dựng chủ thuyết nào; không dắt dân chạy theo lý tưởng mơ hồ của chủ thuyết nào to lớn đồ sộ như cnxh (socialism) hay chủ nghĩa toàn cầu (Globalism), lý tưởng viễn vông, tìm kiếm một thế giới đại đồng, con người tốt đẹp như ở thượng giới, sống chung hoà bình, đầy đủ vật chất, không còn giai cấp, một chính phủ cho toàn cầu, không cần biên giới quốc gia như cứu cánh của “chủ nghĩa bách chiến bách thắng”. . .

Trong ba điều căn bản trên, ông Trump chủ trương: Thứ nhất, gia tăng chi phí quốc phòng, đeo đuổi mục tiêu quân đội mạnh không phải để đi chính phạt thế giới mà mạnh để không cần dùng cũng có thể tạo hoà bình. Thứ hai, xoá bỏ tất cả rào cản phi lý phục vụ cho một lý thuyết nào, chỉnh tu chính sách mậu dịch tự do mà ông gọi là “free trade but smart trade”, cắt giàm thuế, mở rộng chính sách dễ dãi cho kinh doanh, khuyến khích đầu tư, … tức là chú trọng làm sao cho dân được có công ăn việc làm, cuộc sống được sung túc. Điều thứ ba, tạo được niềm tin của quần chúng vào những chính sách của mình - đã thấy khởi sắc như đã nói trên: niềm tin của người tiêu thụ lên đến mức cao nhất trong 16 năm. Bình dân không thể nào có con số chính xác bỡi điều này thuộc lĩnh vực tâm lý. Trong khi người ta còn thiên kiến, bất công nhưng con số tỉ lệ cho thấy nền móng ủng hộ ông TT không thay đổi, hay sụt giảm không đáng kể; có lẽ sai số nên cộng thêm để bù chỗ thiên kiến, nhưng bình dân cũng chẳng cần biện minh làm gì. Sự thật, bất kỳ ai làm lãnh đạo, khi kinh tế hưng thịnh, việc làm trở lại dồi dào, người dân có cuộc sống sung túc, an ninh được vãn hồi tốt hơn do sự năng nổ làm việc hiện nay của cơ quan hữu trách thì chắc chắn những ai đã vội vàng theo chiều gió, bị kích động chống đối nhất thời cũng sẽ trở lại ủng hộ. Riêng ngành lập pháp cần phải thay đổi lập trường, ủng hộ những điều phải lẽ đạo thường thay vì phản ứng vô trách nhiệm nhằm thoả mãn lòng ích kỷ, tư lợi hay tranh giành quyền lực mà chống đối, ngăn chặn việc thực thi chính sách hữu ích cho quốc gia thì mới mong quốc thái dân an trở lạinhư mục tiêu đứng đắn mà bình dân dù ưa hay ghét cũng không có lý do từ chối mà ông Trump đã đeo đuổi từ đầu: Make America Great Again.

Vĩnh Tường

Phụ đính: Hoa Kỳ và Bắc Hàn từ 2009 – 2016 (8 năm - thời Obama)

 25/5/2009 BH thử vũ khí nguyên tử;

12/6/2009 HĐ An ninh LHQ  lên án và đặt cấm vận;

mãi đến 24-25/10/2011 tức là 3 năm sau, nhân viên HK mới gặp phái đoàn BH ở Geneva, Thụy sĩ nhằm bắt đầu lại đàm phán 6 bên đã gián đoạn từ cuối năm 2008;

đến 29/2/2012  BH đồng ý ĐÌNH việc phóng hoả tiễn tầm xa và hoạt động nguyên tử để đổi lấy thực phẩm, nghĩa là hết lương thực, tạm đình hoãn để chờ lương thực, ăn no rồi làm tiếp;

24/5/12 Nam hàn cảnh báo BH chuẩn bị thử nguyên tử;

24//1/2013 BH tuyên bố sẽ tiếp tục phóng hoả tiễn tầm xa trở lại để thách thức HK;

12/2/13 BH thử nguyên tử lần thứ ba, và HĐ An ninh LHQ  ra lệnh cấm vận thêm;

30-31/3/2014 BH tuyên bố sẽ tiếp tục thử nguyên tử, Nam hàn bắn 300 quả đạn vào vùng biển BH và cho phản lực cơ chiến đấu bay dọc theo bờ biển;

6/5/2015 BH tuyên bố hoả tiễn của BH có khả nng bắn vào nội địa HK và sẽ làm nếu HK đẩy họ.

20/5/2015 BH tuyên bố đủ khả năng sản xuất đầu đạn nguyên tử gắn vào hoả tiễn, ngay sau đó cố vấn an ninh quốc gia HK phát biểu rằng ông không nghĩ BH có khả năng đó;

12/12/15 BH tuyên bố sản xuất thêm bom kinh khí;

6-7/01/2016 BH tuyên bố đã thử thành công bom khinh khí, và phát ngôn viên toà Bạch Ốc nói rằng HK chưa xác minh; 9/3/16 BH tuyên bố đã lm được đầu đạn nguyên tử gắn vừa đầu hoả tiễn; 6/9/16 BH xác nhận đã cho nổ đầu đạn, và theo Nam Hàn tiếng nổ cho thấy có sức công phá đến 10 kilotons.

MỘT TẤM LÒNG

Cựu quân nhân Mỹ 82 tuổi đi Việt Nam tìm ông hiệu trưởng chỉ vì một bức tranh

CYPRESS, California (NV) – Ông Lee Lagda, 82 tuổi, một cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam trước năm 1968, vừa quyết định sẽ quay lại Quảng Trị vào đầu năm 2018 để tìm người tặng ông bức tranh.

Ông nói: “Đầu năm 1968, ngay sau Tết Mậu Thân, đơn vị tôi, Tiểu Đoàn Xây Dựng Cơ Động 4, thuộc Hải Quân Hoa Kỳ, được điều động từ Đà Nẵng ra khoảng giữa Huế và Căn Cứ Tác Chiến của Thủy Quân Lục Chiến tại Quảng Trị, trên Quốc Lộ 1.”

Lúc ấy, ông Lagda đã chán ngấy cảnh dân lành vô tội trở thành nạn nhân của chiến tranh.

“Hồi mới năm tuổi, tôi đã phải thấy cái chết của cha tôi trong Thế Chiến 2 nên tôi muốn làm một cái gì đó cho những đứa trẻ ngây thơ Việt Nam,” ông kể.

Để làm được việc này, ông huy động một nhóm quân y trong tiểu đoàn và những người thuộc Chương Trình Y Tế Dân Sự (MEDCAP) đến làng Phú Ốc, cách trại chừng 10 cây số về phía Nam và cách Huế 3 cây số rưỡi về hướng Bắc. Cả mấy làng chỉ có một ngôi trường, cả trường chỉ có một lớp học.

“Mỗi tuần, trung bình, chúng tôi chăm sóc được chừng 100 bệnh nhân, đa số là học sinh của trường, và trẻ em ở lối xóm quanh đó,” ông nói.

Vào khoảng đầu Tháng Tám, 1968, ông tìm gặp ông hiệu trưởng để báo rằng ông đang chuẩn bị về Mỹ.

Ông hồi tưởng: “Mặc dù không tiếp xúc nhiều với ông ấy, nhưng tôi muốn cám ơn ông đã cho chúng tôi mượn trường làm trạm y tế và cho phép học trò lên khám bệnh trong giờ học.”

Ông Lagda nghĩ rằng như vậy là đủ lịch sự với ông hiệu trưởng rồi. Ông cũng nghĩ rằng sẽ không bao giờ muốn quay lại quê hương đầy khổ đau này nữa.

Hai hôm sau, một việc bất ngờ xảy ra tại căn cứ Hải Quân.

Ông hồi tưởng: “Tôi hết sức ngạc nhiên khi người lính gác báo rằng có người đang ở cổng chờ gặp tôi. Tôi không thể ngờ đó chính là ông hiệu trưởng, có cả vợ và đứa con khoảng năm tuổi của ông nữa.”

Ông nhấn mạnh: “Phải nhớ lúc đó khu vực này hết sức bất an, Việt Cộng đặt mìn dọc theo Quốc Lộ 1 rất nhiều, mìn nổ như cơm bữa. Vậy mà ông ấy chịu bỏ thời gian, bất chấp nguy hiểm, đưa cả gia đình đến cám ơn tôi. Cả gia đình ông ăn mặc rất chỉnh tề, trang trọng. Đã vậy, ông còn tặng tôi một bức tranh nữa.”

Đây là một bức tranh sơn dầu vẽ trên giấy, khổ 21.5 cm x 28 cm, mô tả cảnh sinh hoạt tại một ngôi chợ thôn quê bé nhỏ.

“Ông ấy nói ông vẽ cho vui thôi. Nhưng với tôi, đây là một món quà quí giá nhất đời,” ông Lagda khẳng định một cách hãnh diện.

Vị hiệu trưởng cũng cho ông Lagda tên và địa chỉ mình, với hy vọng hai người sẽ có dịp gặp lại nhau trong một hoàn cảnh tốt đẹp hơn.

“Thật đáng tiếc, trong lúc di chuyển từ căn cứ này qua căn cứ khác, tôi đánh mất cuốn sổ địa chỉ với hàng trăm tên họ trong đó,” ông nói.

Là quân nhân, ông đến Việt Nam, tưởng rằng sẽ giúp gì cho đất nước này, nhưng những gì ông chứng kiến “chỉ là sự chết chóc thảm khốc của cả bốn nhóm, lính Mỹ, lính VNCH, lương dân vô tội, và Việt Cộng.”

Vẫn biết cái chết là hậu quả hiển nhiên của chiến tranh, nhưng tác động của cuộc chiến đã để lại cho ông Lagda những ấn tượng không thể phai nhòa, và ông không hề muốn quay lại Việt Nam bao giờ nữa.

 … Cho đến bây giờ, 49 năm sau.

Khi ông hiệu trưởng đưa gia đình đến cám ơn tôi, ông đã cho tôi thấy rằng trong những hoàn cảnh tang thương, điêu tàn nhất, người ta vẫn có thể tử tế, đứng đắn, và lịch sự với nhau,” ông nói.

Từ ngày về nước, ông Lagda chưa bao giờ rời xa bức tranh “vẽ cho vui” của ông hiệu trưởng này.

Ông tâm sự: “Tôi luôn luôn treo bức tranh trên tường gần nơi tôi hay ngồi trong nhà.”

Bà Jeanette, con gái ông, nói: “Tôi chưa bao giờ thấy cha tôi khóc. Lần đầu cha tôi khóc là khi ông nhắc lại chuyện này. Ông hiệu trưởng và bức tranh để lại một ấn tượng quá lớn lao cho cha tôi.”

Bức tranh này tượng trưng cho những gì đẹp đẽ nhất, cao quí nhất mà ông có được từ cuộc chiến Việt Nam.

Mới đây, trong lúc lau chùi, thấy bức tranh, tụt xuống dưới trong khung, ông kéo lên thì, không ngờ, ông thấy được chữ ký của người hiệu trưởng. Chữ ký không có dấu, chỉ đọc được là “QUAN.”

Ông cẩn thận lấy bức tranh ra khỏi khung lần đầu tiên trong suốt 49 năm. Mặt sau bức tranh là phác họa một khuôn mặt đàn ông.

 Từ những khám phá này, ông Lagda chợt bị thôi thúc phải quay lại Việt Nam, mong tìm được vị hiệu trưởng năm nào.

“Cuộc gặp gỡ của chúng tôi quá ngắn ngủi nhưng tôi rất trân trọng. Chúng tôi giúp trẻ em Việt Nam vì đó là chuyện chúng tôi có thể làm. Tôi chưa bao giờ cần ai cám ơn cả. Nhưng thái độ cảm kích của người hiệu trưởng này đã làm tôi hết sức xúc động,” ông khẽ nói.

Đầu năm 2018, ông sẽ cùng con trai là Jeff đi Việt Nam tìm vị hiệu trưởng chỉ với cái tên “QUAN” không có dấu và không có địa chỉ chính xác.

“Tôi hy vọng tìm được ông ấy để nói rằng ông đã cho tôi bài học vô giá về tư cách con người. Không biết ông còn nhận ra tôi không.”

Bốn mươi chín năm trôi qua với biết bao đổi thay của cuộc sống mà vị hiệu trưởng ngôi trường làng Việt Nam vẫn không phai nhòa trong lòng người lính già.

Hy vọng chuyến đi của ông sẽ dẫn đến một kết cục có hậu.

LỜI CỦA NGUYỄN NGỌC NHƯ QUỲNH NÓI TRƯỚC TÒA ÁN VIỆT CỌNG SAU KHI BỊ TUYÊN ÁN 10 NĂM TÙ GIAM

"Con xin cảm ơn mẹ và các con,

các luật sư đã cố gắng bảo vệ cho tôi.

Mỗi người chỉ có một cuộc đời nhưng dù được làm lại con vẫn sẽ làm như vậy và con tin mẹ và các con sẽ không bao giờ phải hối hận mà sẽ tự hào vì con.

Tôi mong muốn xây dựng một xã hội và đất nước tốt đẹp.

Một quốc gia chỉ tự cường khi nó luôn gắn liền với nền tảng một xã hội mà người dân có tự do và hạnh phúc.

Người dân chỉ có tự do và hạnh phúc khi có tự do ngôn luận và quyền tự do biểu đạt những điều mình mong muốn.

Tôi mong rằng mọi người sẽ lên tiếng và đấu tranh,

vượt qua nỗi sợ hãi của chính bản thân mình

để xây dựng một đất nước tươi đẹp hơn."

 

NGUYỄN NGỌC NHƯ QUỲNH

(trích từ FB của Luân Lê)

 

Quan niệm Chính Trị

Nhiều người cho rằng họ không tham gia ‘chính chị, chính em’ gì cả. Điều này có đúng không?

 -  Không, 100% là không đúng trừ khi người ấy sống một mình trên hoang đảo. Một hành động đơn giản như khi cầm lá phiếu đi bầu tức là đã tham gia vào chính trị, chọn lựa một hay nhiều chính sách, một hay nhiều người làm chính sách hay luật lệ ảnh hưởng đến đời sống và sự an bình của cá nhân và xã hội, của thế hệ con em và xa hơn là sự phát triển hay sự tồn vong của quốc gia mình đang sống. Thậm chí không tham gì cả cũng là một chọn lựa lấy hay bỏ những gì chi phối đời sống của mình. Không tham gia hay tham gia chọn lựa sai lầm không chừng có ngày phải đi làm sôi bọt mép mà cái check của mình bị trừ đi phần ba, phần tư hay hơn phân nửa . . . rồi mới biết thì quá muộn chăng?

  Năm 2006, tại Mỹ, một ngày sau khi TT Bush đọc diễn văn, ngay trên diễn đàn Liên Hiệp Quốc, Hugo Chavez chửi TT Bush:“Con qủi đã đến đây hôm qua”, “Hôm nay mùi hôi thối vẫn còn”, Chavez đổ thừa Haiti động đất do Mỹ thử vũ khí để chống Iran; Chavez thúc Tổng thư ký LHQ đọc cuốn sách của một tác giả tả khuynh xã hội chủ nghĩa hạng nặng Noam Chomsky mà hắn cho là rất hay, nói về “kỳ vọng bá quyền của Mỹ đặt nguy hại cho sự tồn tại  của nhân loại”; Năm 2008 Chavez trở lại LHQ và phát biểu rằng Fox News là lũ ngu muội. Năm 2011, Chavez đọc diễn văn mừng ngày World Water Day, như hắn đã nói nhiều lần rằng sự thiếu sự sống trên sao Hỏa (Mars) là do tư bản chủ nghĩa và bệnh ung thư của hắn và những lãnh đạo ở Nam Mỹ do kỹ thuật của Mỹ… Tư tưởng xhcn tuyệt vời của Chavez đã làm không ít lãnh đạo phải trợn mắt. Chavez là một trong ba người Putin và Castro (Fox News 22/10/2012) ra mặt ủng hộ TT Obama. . . Dân Venezuela đã chọn xhcn, sung sướng quá chừng với nguồn tài nguyên dầu hoả; họ được cho không nhiều thứ và họ đã bầu cho Hugo Chavez tiếp theo là Nicolás Maduro. Bây giờ thì sao? Người giàu là kẻ xu nịnh và cán bộ cầm quyền, trong đó con gái của Chavez là người giàu nhất. Mấy tháng nay xã hội Venezuela chìm trong khói lửa biểu tình, không có ngày yên, dân cả nước nổi lên đòi thay đổi vì đói kém, nợ nần, không có công ăn việc làm và còn bị đàn áp! Như thế có muộn không? 

Chủ nghĩa tư bản nôm na nhưng căn bản rất nhân đạo theo bình dân Việt nam là “tay làm hàm nhai”; “ăn không lo của kho chẳng còn”, Chủ nghĩa xã hội nom na là “lấy – chia” như lấy của làng làm ơn ông xã cho có công bằng. Với cái lý thuyết đánh đổ tư sản bằng cách trực tiếp như xưa, hay ngày nay giáng đòn bằng siêu cao thuế nặng để nuôi guồng máy cồng kềnh để kiểm soát, phân phối, lấy chia chác làm trọng, xã hội nào mà không thối nát;  người thông minh, chịu khó và liều lĩnh làm giàu ai còn dại gì nặn hết tâm ý và tài năng ra để sản xuất của cải, tạo công ăn việc làm? Cái lý nhà nước lấy – chia có đúng chăng chỉ một lần, và sau đó dần hồi không còn của cải để chia nữa. 

Người dân chính là người chọn lựa tương lai của mình. Tìm hiểu căn kẽ đường lối bằng con mắt bình dân theo lẽ tự nhiên của“đạo thường” chứ không phải của phe đảng là thái độ chính trị đúng đắn nhất.

Tại sao bà Clinton, thần tượng của nhiều người lại thất cử?

  Trước hết, thần tượng là người hay có khi là vật được qúi trọng, đề cao hay tôn sùng một cách say mê. Thần tượng không có ý nghĩa tốt hay xấu; thần tượng của người này không hẳn là của người kia; “đồng thanh tương ứng”, tùy ở sở thích, khuynh hướng tâm lý, chính trị, tư tưởng, sự ưa thích của mỗi người thuộc phía nào - về đạo đức, tài năng, hoặc cả hai, hoặc ngược lại có tài ăn nói ngụy biện hơn người, giỏi đạo đức giả, lừa mị khéo léo; hoặc về nghệ thuật  . . . Để trả lời câu hỏi về tại sao bà ta thất cử, ta có thể đưa ra một số giả thuyết:

  1. Giả sử Ban vận động của bà Clinton đường đường chính chính, như giấy không rách, lề không cần giữ, không dùng thủ đoạn ma mãnh, bất chính đấu đá nội bộ nhằm triệt hạ con gà độ thứ thiệt của đảng - ông Bernie Sander, ngày nay là nền móng bê tông cấp tiến xã hội chủ nghĩa của đảng thì dù 100 wikileak có hack cũng lấy gì mà tung ra cho bàng dân thiên hạ chê cười để bị mất phiếu?
  2. Giả sử Foundation của ông bà Clinton không nhận tiền nhiều nước ngoài để lộ mối nghi ngờ - đến nay cũng chưa chắc đã yên, hoặc không đọc diễn văn ‘hay quá chừng’, được trả hàng triệu dollars và tuyên bố “mở rộng biên giới”; cái kho ấy không bốc mùi thì trăm wikileak đâu có tốn công khui, và nếu có khui chơi thì có gì để nói.
  3. Giả sử bà Clinton không tự tung tự tác thuê người sắp đặt sever email cá nhân trong buồng kín tư gia để tàng trử, hay để dễ bề sử dụng một cách trái phép những tài liệu mật hay tối mật của quốc gia thì FBI nào có viếng chứ đừng nói đến điều tra sém chút nữa phải đếm lịch trong khám. Chuyện đã qua, nhưng không thể không nhắc để con cháu ta biết sự thật, có nhà báo Việt nam “phe ta” còn bào chữa một cách lố bịch rằng để ở nhà riêng của bà an toàn hơn ở văn phòng chính phủ vì nơi đó có nhiều người qua lại!
  4. Giả sử bà Clinton không quá khích vì chính sách môi trường, không tuyên bố “sẽ làm cho thợ mỏ mất việc làm và các công ty than đá sụp đổ” thì đâu đến nổi thay vì hồ hỡi vận động lại phải xin lỗi đoàn công nhân mất việc tại ngay bàn tròn khi đoàn thợ mỏ hỏi thẳng “Làm sao bà có thể nói được bà sẽ làm cho nhiều thợ mỏ mất việc làm và bà lại đến đây bảo chúng tôi rằng bà sẽ là bạn của chúng tôi. Bỡi những người ở đây không còn coi bà là bạn” Chính sách “biến đổi khí hậu” của Obama đã khiến cho hàng chục công ty bankruptcy và 75,000 việc làm than đá bị mất trong năm 2014
  5. Giả sử bà Clinton có  chính sách gì đặc biệt hơn là lặp lại cái khẩu hiệu cũ mèm: “Tranh đấu cho Chúng ta” (“Fight for Us”) – tranh đấu cái gì, ngoài những luận điệu chẩn bần nơi nước nào cũng có, mở rộng quyền này, quyền kia, hay tấn công người giàu có, công ty lớn, lo cho trung lưu . . ., trong khi Mỹ là nước nổi tiếng tôn trọng nhân quyền bậc nhất, công bằng xã hội bậc nhất, có Hiến pháp rõ ràng là kim chỉ nam chắc chắc bật nhất, luật lệ nghiêm minh bậc nhất… ; và vấn đề là lãnh đạo các đảng chính trị có tôn trọng hay không, có thi hành đúng đắn hay trành tréo bằng cách này hay cách khác không chịu thi hành vì mục tiêu chính trị phe đảng bất chấp xã hội ngày một suy vi.
  6. Giả sử bà Clinton có chương trình gì mới hấp dẫn hơn cái khẩu hiệu quá tầm thường nhàm chán: “Đoàn kết Mạnh hơn” (“Stronger Together”) - đoàn kết mạnh hơn để làm gì, trong khi viễn kiến là cái mà người dân cần ở lãnh đạo bà không có; bà không nhìn thấy cái khẩn thiết mà người dân và đất nước cần lấy lại là sự an bình, thịnh vượng và nền tảng văn hoá đạo đức mà người Mỹ đã mất dần, và đang có nguy cơ không còn cứu vãn được.
  7. Hỏi xem có ai còn nhớ bà Clinton có thông điệp gì sâu sắc? Chắc chắn không mấy ai còn nhớ; có chăng chỉ là tiếp tục chính sách của Obama. Nhưng nếu hỏi ông Trump có thông điệp gì thì người thương kẻ ghét ai cũng biết chủ trương rất đơn giản và hấp dẫn: “Make America Great Again, Safe Again, Work Again, First Again, Wealthy Again”
  8. Giả sử bà còn đủ sức khỏe như ông Trump, một ngày chạy bốn năm shows, chịu khó xuống tận Wisconsin, Michigan …để vận động thì có thể kiếm thêm ít phiếu của dân thợ thuyền bị bỏ quên sau khi nhiều lần bầu cho chính trị gia DC, như tổng thống Regan đã nói khi từ bỏ đảng DC: “Tôi không bỏ DC mà DC đã bỏ tôi”. Ngay cả sức khỏe bà cũng không đủ, nắng không ưa, bà suýt ngã trước cửa xe sau khi đứng ngoài trời một chút ở nơi làm lễ tưởng niệm nạn nhân 9/11. Có người tin dị đoan bảo rằng biết đâu, những người đã nằm xuống ở đó không chọn bà làm tổng thống. TTDC lo chạy chữa quá chừng nhưng mạng xã hội cũng chẳng nhường một bước và tiếp tục khui vấn đề sức khỏe.
  9. Giả sử cựu tổng thống Clinton không có những scandals về đạo đức đến mức bị mất thanh danh, bị truất phế - tuy được Thượng viện DC cứu ra, và truyền thông dòng chính (TTDC) ‘phe ta’ không tấn công cá nhân ông Trump quá đáng thì mấy bà nạn nhân của ông Clinton đâu có ra ngồi ghế trước khán đài trong đêm tranh luận để trả đòn. TTDC tấn công rằng ông Trump chơi xấu. Lên võ đài, không lẽ ông ta phải khoanh tay để cho người ta đánh? Mấy ông ứng viên CH trước kia lịch sự thái quá nên thua. Bấy giờ cử tri hết lòng ủng hộ món võ say của ông Trump.
  10. Giả sử TTDC không thuộc về phe DC, không tâng bốc bà thái quá, không cho bà leo cây quá cao bằng mấy con số tỉ lệ để phe ta chuẩn bị rượu thịt ăn mừng mà không cần đi bầu, và TTDC không tấn công ông Trump tới mức quá bẩn thỉu thì cử tri đâu có tập trung chú ý theo dõi, chán ghét, tức giận mà để ý nhiều hơn vào chính sách hấp dẫn của ông Trump. Luật tự nhiên Thái quá như bất cập ai mà không biết; bù long có chắc mấy cũng gãy vì vặn sái gai hay vặn quá chặt.  
  11. Giả sử thành tích của tổng thống Obama tốt đẹp để bà Clinton dựa lưng thì ông Trump làm sao có phiếu trong khi ông chỉ là người ở ngoài hệ thống chính quyền và là người bỏ DC theo CH? Nhìn cho kỹ từ kinh tế, văn hoá, xã hội, y tế, đối ngoại, an ninh trong và ngoài nước, nạn di dân, nạn khủng bố … , có chỗ nào để bà Clinton chỉ thành tích, trong khi chính sách của bà như bà tuyên bố là nối tiếp những gì Obama đã làm.
  12. Giả sử đối thủ của bà Clinton là một trong 16 ứng viên CH, không phải là ông Trump thì chắc chắn họ sẽ bị xơi tái tức thì bỡi xưa nay CH luôn luôn lịch sự, tử tế quá mức cần thiết và bấy giờ lại gặp đàn bà thì sẽ càng nhũn như bún. Chẳng may, gặp lão Trump như cái búa tạ chết tiệt, dám cả gan đánh cả phụ nữ - dám gọi “Hillary lươn lẹo” (Crooked Hillary), trên diễn đàn tranh luận dám trả đòn cái bốp: “Bỡi lúc đó bà ở trong tù”
  13. Giả sử bà Clinton không dùng cái bảng hiệu chữ H màu xanh (tên của bà), có mũi tên đỏ đâm ngang hông chỉ đường về bên “PHẢI”. Ai có chút cảm quan phong thủy cũng thấy rằng việc trưng bày bảng tên như thế chứng tỏ sự tự tôn, có tinh ích kỷ cá nhân hơn là phục vụ quần chúng; thứ hai, chữ H trùng với bảng chỉ bệnh viện; thứ ba mũi tên xuyên tâm màu đỏ (Cộng hoà) và đặc biệt là chỉ đường về bên phải: Hãy bầu cho Cộng hoà! Tất cả đều là ngẫu nhiên nhưng việc lớn thường có những điềm báo trước, chỉ tại con người thường ngã chấp, tâm trí không còn đủ thông minh, không đủ độ nhạy cảm để bắt kịp mà thôi. Ai tin Thiên Chúa thì chắc đã rõ là có sự an bài; ai tin triết lý nhà Phật thì rõ cái gì cũng có nhân có quả.
  14. Hoặc ai tin ở lá số tử vi, giả sử lá số và đại tiểu hạn của bà tốt hơn ông Trump thì đâu đến nổi mọi thứ xảy ra như thế. Trước ngày bầu cử có đến mấy vị tiên tri Việt nam tiên đóan khẳng định bà Clinton sẽ thắng lớn! Chắc qúy vị ấy đã mất job rồi! “Trong bài bầu cử xong ta học được gì” kẻ viết bài này đã có dạo chơi vườn tử vi, và thấy quả thật bà Clinton không thể đành bại ông Trump, hơn nữa nếu tiếp tục đam mê quyền lực mà vọng động thì dễ rơi vào vòng lao lý. 
  15. Ông Trump bị tranh chấp liên tục trên đường công danh vì Mệnh cung tại Sửu có chính tinh Thái âm +Thái dương (sách tử vi rằng: Những người bất hiển công danh cũng vì Nhật Nguyệt đồng tranh sửu mùi”) nhưng tuổi Bính, mệnh Thổ thì lại được tốt: “tài, quan song mỹ”, phải tranh đấu gay go nhưng rốt rồi cũng hiển đạt. Cả hai mặt đều đúng, về tài chánh thì ai cũng biết, ông Trump giàu có, về quan trường thì đã rõ ông đắc cử tổng thống. Nhật Nguyệt ở Sửu hoặc Mùi là dấu chỉ phải có nhiều tranh đấu, điều này ta đã thấy từ khi mới ra quân bị đánh tơi bời nhưng cuối cùng ông cũng đánh rớt 16 đối thủ kỳ cựu và sau cùng đánh rớt luôn bà Hillary - người được tôn vinh như vị nữ minh quân, đối thủ nặng ký nhất của đảng DC; và ngày càng thấy rõ ở quan trường ông Trump phải chiến đấu vất vả thế nào. Bản mệnh của ông lại có sao Thiên hình (thanh kiếm sắt bén - chỉ sự xử việc rất cứng rắn, rất ngay thẳng và dứt khoát), có thêm sao Quốc ấn (Ấn tín của vua) … Đây chỉ là vài nét chính độc đáo của tử vi góp phần vào việc lý giải cuộc bầu cử vừa qua chứ chưa đủ nói lên vận mệnh cả đời người.
  16. Giả sử trên dưới ba mươi năm, trong chính trường thành tích riêng của bà lẫy lừng đáng kể để không bị ông Trump đấm thẳng một câu trả lời khi bà chỉ trích ông lợi dụng bộ thuế củ rằng sau 30 năm làm việc sao bà không làm gì, sao bà không sửa. Có vị nào biết rõ xin liệt kê ra xem còn bao nhiêu thành tích nữa chưa ai biết; có làm thì đừng quên những thành tích scandals từ Benghazi, Lybia, Syria, Foundation money, Emails…
  17. Và giả sử . . 

  Cuối cùng những điều giả sử trên đây vẫn chỉ là giả sử nên bà Clinton thua cuộc là  phải đạo trời đất rồi chứ còn gì để nói. Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong”. Cưỡng cầu thường chỉ đem lại khổ nạn chứ làm sao được phúc. Cái lẽ này người Việt ai mà chẳng biết. Trang sử mới dân chúng HK đã mở và dấu thiên đình đã ấn, nhưng người nuôi ảo vọng vẫn còn mơ màng “ngôi báu”. Ai hiểu rõ sự tình sẽ không hy sinh oan uổng làm đội quân tiên phong đi đánh người, phá hoại tài sản công cộng vân.v..v  làm con cờ thí cho tổ chức con buôn chính trị.  

1/- Có người còn ấm ức cho rằng đáng lẽ bà phải thắng vì bà có hơn ông Trump đến gần 3 triệu phiếu. Ta nghĩ sao?

Có gì đâu mà phải nghĩ? Hoa Kỳ là một liên bang, luật bầu cử đã có trong Hiến pháp từ khi lập quốc và tất cả các ứng viên đều biết trước khi lên đấu trường tự do. Mỗi tiểu bang có 2 thượng nghị sĩ và một số dân biểu nhất định, cộng lại có bao nhiêu người thì con số đại diện cử tri cho mỗi đảng cũng từng ấy người. Ai thắng phiếu phổ thông tiểu bang nào thì lấy trọn số cử tri đoàn của tiểu bang đó. 

Ví dụ, bà Clinton thắng tiểu bang lớn như California, dù thắng 1 phiếu hay 4 triệu phiếu cũng chỉ tính là THẮNG - XONG, và bà đã hưởng trọn 55 phiếu cử tri đoàn.  Sử dụng cử tri đoàn là hình thức bầu cử rất thông minh và công bằng dành cho liên bang HK – HK không phải chỉ đơn thuần là một nước có quận huyện, tỉnh thành, tất cả đều trực thuộc trung ương. Mỗi tiểu bang có chính quyền y hệt như một nước, có tiềm năng riêng, có chính sách riêng, luật lệ riêng, có quyền lợi riêng. Thắng nhiều tiểu bang để có đủ quá nửa số cử tri đoàn 270/538 thì mới gọi là thắng. Như vậy luật bầu cử theo cử tri đoàn nhằm bảo đảm sự bình đẳng - tiếng nói, quyền lợi của tất cả các tiểu bang lớn nhỏ. Khi chơi cờ tướng, đâu có ai tính còn nhiều con cờ thì thắng, hoặc trên đường đi tìm kho tàng, người nhanh tay, lẹ mắt lượm một hạt kim cương thắng người hốt cả tấn đá là phải rồi. 

Là công dân Hoa Kỳ đây là bài học vỡ lòng nên biết. Bà ta thắng hơn ba triệu phiếu chỉ do tiểu bang lớn là Cali mà thôi và bà đã hưởng đủ số cử tri đoàn theo qui định. Bà ta phải thắng vì hơn phiếu phổ thông là luận điệu tuyên truyền, lừa bịp kích động những người không chịu học hỏi, thiếu hiểu biết thể thức bầu cử. 

Đơn giản, cần biết HK là một liên bang (United States of America - nhiều nước hợp lại) chứ không đơn thuần là một nước cho nên không thể dựa trên phiếu phổ thông để quyết định thắng thua. Đây là cơ sở để bác bỏ luận điệu tuyên truyền trước khi tiếp tay ngu hoá quần chúng.

(bài: Tôi Học Làm Công Dân Mới https://vietbao.com/a262699/toi-hoc-lam-cong-dan-moi)

  Nói cho công bằng, người ta thắng cuộc một cách minh bạch và công bằng trên đấu trường tự do, cơ hội đồng đều. Nhưng vì tham vọng quá lớn, tâm tư chấp dính, tự thoả mãn với những kết quả đặt trước của mình – ngã chấp nặng nề khiến nhiều người mãi không thấy rõ hết nguồn cơn, không nhìn ra sự thật, tự lừa dối mình, không chấp nhận và tự trói, tự dày vò, tự hành hạ,  không chịu buông;  không buông được thì tìm cách này hay cách khác ngăn trở, đánh phá đối phương mong được thoả mãn hoặc để vươn lên tạo lại thế lực. 

Tiếc thay cách vươn lên chỉ có một, đó là từ hoàn cảnh mới xây dựng lại niềm tin một cách công bằng, có chính khí và lương thiện. Nhưng điều đó khó xảy ra, hiện nay DC vẫn ngăn chặn, trì hoãn, chống  và chỉ có chống, mặc dù bầu cử đã xong và tổng thống mới đang tích cực làm việc. 

Là công dân, tốt hơn hết là đừng nghe mà phải hiểu. Hãy nhìn, nhìn thật kỹ bằng con mắt bình dân không phe đảng, bằng tình yêu và tâm tư rỗng rang như trời đất để thấy lẽ thường, để xem ta có nhận định gì về đàng sau những xung đột, xáo trộn xã hội trong mấy năm qua, sau bầu cử và mãi cho đến nay.

2/- Báo đài nói, người ta nói ông tổng thống này khiến nhiều người ghét, tại sao vậy?

Câu hỏi nghe đơn giản nhưng không dễ trả lời vì có đến ba phần:  báo đài nói, người ta nói; nhiều người ghét và lý do tại sao.

Thứ nhất, ta tự hỏi xem đài nào, báo nào nói và họ theo phe phái nào? CNN, MSNBC, NBC, CBS, New York Time, Washington Post hoặc Fox News, The Blaze, The Hill, Newsweek… Ngày nay khác xưa rất nhiều, xã hội rất tiến bộ về mặt phương tiện kỹ thuật nhưng lại đi lùi khá xa về văn minh tinh thần; nhân bản và giá trị đích thực của nó chỉ có một, nhưng cuộc sống thì hỗn độn, pha trộn nhiều tập tục văn hoá khác nhau, nhiều chủng tộc khác nhau, nhiều tôn giáo, ngay cả xung đột giáo phái khác nhau trong một tôn giáo, có tôn giáo thuần túy và cả tôn giáo chính trị, mỗi mỗi đều có mức độ cao thấp, tiêu chuẩn giá trị khác nhau. 

Người ta có thừa phương tiện để tìm hiểu, nhưng ngặt một điều nhu cầu vật chất để sống còn khiến còn ít thời gian để tìm hiểu và suy gẫm

Mặt khác người đưa tin trở thành người làm tin. Lợi nhuận và phe phái  khiến số lượng thông tin thì nhiều, ma lực lớn, tài khéo ngụy biện, tuyên truyền, mị dân, lọc lừa gỉỏi và phẩm chất ngày càng kém -  kém ở mức độ đáng tin cậy, kém ở sự trung thực, kém lương thiện. Tin giả (Fake news) đã trở thành vấn nạn của thời đại, nhất là trước sau cuộc bầu cử 2016 – 2017. 

Nghe tin và tự mình suy xét hơn là cứ cóp các tựa đề ma mãnh giật gân lấy khách, rồi tự biến mình làm cái loa nối tiếp tuyên truyền "xạo". Mối nguy cho xã hội ngày nay ở mỗi người có thể là một trung tâm tiếp tay tuyên truyền không ai kiểm chứng. 

Tổng thống Trump khác hơn tất cả các người tiền nhiệm, ông này không ngại chỉ trích thẳng thắn ngay mặt truyền thông rất gắt gao. Khom lưng cúi đầu, khuất phục dĩ nhiên sẽ đỡ bị tấn công nhưng không tránh khỏi nhạo báng là ươn hèn; ông đã chọn thái độ đối đầu trực tiếp, không khoan nhượng đối với bất công và thiếu lương thiện. 

Biết chắc sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng chỉ có cách đó mới mong góp phần chỉnh đốn sự suy đồi phẩm chất và rốt cuộc thì dân là người thắng cuộc. Một số cơ sở truyền thông đã bán mất tự do khi tự trói mình thành bộ phận bênh vực đảng phái, lạm dụng tuyên truyền đầu độc xã hội. 

Để tránh lời nói của mình bị xào nấu, cắt gọt, bóp méo, thêm bớt, tổng thống Trump đã vận dụng phương tiện bình dân, tweet thẳng đến người dân không thông qua truyền thông. Tại sao lại không được? Nhiều chính trị gia DC đối lập đòi ngăn chặn lời nói trực tiếp với dân. Truyền thông DC mất phần tác dụng nên ghét cay ghét đắng là phải rồi! Phe thắng lợi nhất là người dân.

Thứ hai, nhiều người ghét: Đức Chúa Trời hay Đức Phật cũng có kẻ vô thần chối bỏ. Mưa nắng bất thường cũng khiến nhiều người ta thán, chửi cả ông trời. Nói nhiều người ghét là không sai chút nào, nhưng đừng quên rằng nói rất nhiều người thương cũng rất đúng. Chuyện ghét thương không phải là vấn đề của lãnh đạo đất nước.  

Thứ ba, tại sao tổng thống Trump bị người ta ghét? Điều này dễ hiểu. Trong thời kỳ mà cái xấu ác, tà ngụy dẫy đầy, vàng thau lẫn lộn, ma phật bất phân, đạo đức suy đối, xã hội phân hoá, người lãnh đạo đất nước phải chỉnh đốn, sửa trị xã hội, cứng rắn thi hành luật lệ, cấp bách bảo quốc an dân làm sao tránh khỏi người ghét. 

Đường lối của tổng thống mới là tái thiết đất nước, ưu tiên lo cho quốc gia và người Hoa Kỳ, theo sát Hiến pháp, có nhiều điểm trái ngược với chủ trương của chính quyền cũ – đã theo hướng toàn cầu hoá, buông lỏng biên giới, coi nhẹ vấn đề người vào nhập cư bất hợp pháp… điều này va chạm đến thói quen và đặc quyền, đặc lợi không chính đáng của một số người hoặc đảng phái. 

Lối hành xử của tổng thống cứng rắn và nhất là TTDC không ngừng đã kích, tuyên truyền xuyên tặc, thậm chí không tiếc lời mắng chửi khiến một số không ít người thiếu thông tin đa chiều, chỉ nghe theo luận điệu đảng phái một chiều, bị kích động thù ghét. 

Bằng chứng là đã có nhiều nạn nhân vào tù vì quá khích hoặc vì âm mưu đen tối: Cô Reality L. Winner 25 tuổi (vào làm việc trong lực lượng không quân HK từ thời Obama 2010, ngày 3/2/2017 vào làm việc cho chính phủ liên bang qua Pluribus International Corporation, công ty cung cấp chuyên môn cho ngành nội an (NSA)) đã hăm dọa đốt phá toà Bạch Ốc và vừa lén xì tin mật của chính phủ; 

Kathy Griffin làm việc cho CNN đã biểu diễn xách đầu ông Trump cắt đứt ngang cổ, mặt mũi máu tươi ròng ròng – y hệt hành động khủng bố, phương hại đến giáo dục đạo đức, làm lợi cho khủng bố, khiến dư luận phẩn nộ, cô ta đang bị an ninh điều tra; 

Người Việt-Mỹ cũng có một anh nhảy rào vào toà Bạch Ốc, và vô số kể những trường hợp khác người bình thường trở thành nạn nhân của tự do tuyên truyền khiến xã hội chẳng yên.

Ngay hôm nay 12/6, một năm sau trận khủng bố tấn công ở NightClub Orlando khiến 49 người chết, Wapo quay lại đổ lỗi cho sung - là tường hợp hành hung bằng súng mà không nói đến khủng bố; 

và ở rạp hát công cộng Delarcorte TheaterNew York (tiền thuế của dân) diễn tuồng ám sát đâm chết TT Trump (hình ảnh máu me ghê rợn, người viết xin miễn copy) mà ông Fareed Zakaria CNN gọi đó là một “kiệt tác” và khuyên người ta nên xem. 

Người Việt- Mỹ tả khuynh cứ việc thưởng thức, xuống đường ủng hộ nhưng có lẽ các bậc cha mẹ còn sót chút truyền thống bảo thủ đạo đức kiểu Việt nam cũng nên xem có cần coi chừng con trẻ của mình không.   

  Kịch bản chính trị Hoa Kỳ còn dài; DC Mỹ giúp Putin, Nga mỗi ngày một nổi tiếng; bật đài lên lúc nào cũng nghe Russia, Russia và chỉ có Russia; mặc dù hát hơn mười tháng, sân khấu đấu đá loạn cào cào, khán giả đã ngán tới óc sọ mà màn vẫn chưa chịu kéo. Chắc họ đang chờ thư cảm ơn của Putin. 

Lối xây dựng đất nước này chỉ ở Hoa Kỳ thời này và sau khi bà Clinton thua mới có. Tổng thống cố gắng lo chu toàn lời hứa và cả gan tiếp tục tweet thẳng tới thường dân mà không chịu thông qua TTDC; người làm luật đảng DC mấy tháng nay rất bận việc, ngăn trở, đào bới và tấn công;  đảng CH cứ hò kéo cưa chờ đợi; một số TTDC thì như đám kênh kênh chờ rúc xác, tin tốt tổng thống làm ra không thấy loan mà chỉ khai thác sơ hở; thậm chí làm tin và thổi phồng. . .

Chuyện nói mãi không cùng, tốt hơn hết là đừng nghe, mà phải nhìn và phải hiểu. Hãy nhìn, nhìn thật kỹ bằng con mắt thường, là thái độ bình dân không phe đảng nhìn hiện tượng như nhìn mây bay đầu núi, nước chảy xuôi dòng. 

Có đóng góp xây dựng xã hội thì nên theo lẽ phải thông thường như đạo trời đất (common sense) ắt sẽ tránh được hối tiếc như con chốt đã bị đẩy qua bên kia bờ. 

Vĩnh Tường @ 14/6/2017

Đơn xin xét lại Hiệp Định Paris (Aply for revising the Paris Agreement )

Kính gửi :

Ngài Tổng Thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ
Tôi và những người ký tên dưới đây đại diện cho
- Người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ
- Các Việt kiều ở các quốc gia khác trên thế giới
- 90 triệu người dân Việt Nam ở tại Việt Nam.
Làm đơn này kính xin Tổng Thống chủ trì công lý cho dân tộc chúng tôi , xét lại Hiệp Định Paris , là

HIỆP ĐỊNH
VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH LẬP LẠI HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM
CHÍNH PHỦ VIÊT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA & CHÍNH PHỦ HOA KỲ

Trong đó nước Mỹ đại diện cho nước Việt Nam Cộng Hòa ký kết với nước VIỆT Nam Dân Chủ Công Hòa (Bắc Việt) Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần cũng cố hoà bình ở châu Á và thế giới.
Kính thưa Tổng Thống
Theo Hiệp định Paris, thì từ điều 1 đến điều 8 qui định về việc ngừng bắn, trao trả tù binh và nhân viên dân sự giữa hai bên. Điều 9 nói rằng :
Chương IV
Điều 9
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ Hoa kỳ cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam sau đây:
a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng.
b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế.
c) Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào đối với miền Nam Việt Nam.
Theo chương IV, điều 9 của hiệp định Paris , điểm (a ) và (b) thì quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam (tức VNCH) là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.
Và : Nhân dân miền Nam Việt Nam (tức VNCH) tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt nam thông qua tổng tuyển cử thật tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế.
Hai điểm (a ) và (b) này chưa được thực hiện.
Về điểm (c) : “Các nước ngoài không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam “(tức VNCH) .
Đối với nhân dân “miền Nam Việt Nam “(tức VNCH) tất cả các nước khác đều là nước ngoài, trong đó có nước “ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) “.
Các nước này đã cam kết không áp đặt xu hướng chính trị (như XHCN) hay xu hướng cá nhân (như Hồ Chí Minh) đối với nhân dân “miền Nam Việt Nam”.
Thế nhưng nước “ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt)” đã dùng vũ lực cưỡng chiếm “miền Nam Việt Nam”, và áp đặt thế chế chính trị XHCN lên “miền Nam Việt Nam” (tức VNCH). Như vậy là vi phạm điểm (c ) , Điều 9, chương IV của Hiệp định Paris.
CHƯƠNG IV,
điều 11
Ngay sau khi ngưng bắn, hai bên miền Việt Nam sẽ :
- Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ mọi thù hằn, Cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia.
- Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân:
* Tự do cá nhân,
* Tự do ngôn luận,
* Tự do báo chí,
* Tự do hội họp,
* Tự do tổ chức,
* Tự do hoạt động chính trị,
* Tự do Tín ngưỡng,
* Tự do đi lại,
* Tự do cư trú.
* Tự do làm ăn sinh sống,
* Quyền tư hữu tài sản
* Quyền tự do kinh doanh.
- Vấn đề “hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ mọi thù hằn, Cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia”.
Bên Việt Nam Dân Chủ Công Hòa (CS Bắc Việt) không tôn trọng. Họ buộc mọi quân nhân, công chức bên VNCH phải học tập cải tạo (Thực chất là cưỡng chế lao động) tại những nơi rừng rú heo hút, không có mọi tiện nghi tối thiểu (Không có điện, nước, thuốc men, nhà ở, chỗ nằm) tất cả đều do tù nhân tự làm ra. Trong thời gian từ 3 năm đến hơn chục năm. (có nhiều người đã bỏ mạng tại nơi cải tạo)
- Về các quyền tự do và các quyền khác : Hầu hết các quyền này đều không được bên : Việt Nam Dân Chủ, Cộng Hòa (CS Bắc Việt) tôn trọng.
* Tự do cá nhân : không có, lúc nào người dân cũng bị tổ dân phố và công an khu vực kiểm soát.
* Tự do ngôn luận : Không có.
* Tự do báo chí : Không có
* Tự do hội họp : Không có (tụ tập trên 5 người phải xin phép)
* Tự do tổ chức : Không có, Chỉ có Đảng Cộng Sản là đảng duy nhất.
* Tự do hoạt động chính trị : Không có.
* Tự do Tín ngưỡng : bị vi phạm (nhiều chùa chiền, nhà thờ bị cưỡng chế giải tỏa)
* Tự do đi lại : Có .
* Tự do cư trú : Không có, phải ở nơi có hộ khẩu (hoặc tạm trú có khai báo)
* Tự do làm ăn sinh sống : Có, nhưng không phải tất cả các nghề.
* Quyền tư hữu tài sản : Có giới hạn. (Vì đất đai thuộc nhà nước)
* Quyền tự do kinh doanh. Có giới hạn (Có những nghề không được cấp phép, thí dụ mua bán điện nước, xăng dầu, tiền tệ )
Tóm lại CSBV không thực hiện hòa hợp, hòa giải dân tộc, áp dụng chính sách trả thù đối với quân nhân, công chức chế độ VNCH.
Người dân không được sử dụng đầy đủ các quyền được luật pháp quốc tế công nhận (Nhân quyền)
Vì nước đối tác, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã không tuân thủ Hiệp định Paris mà họ đã ký kết với nước Mỹ, đã gây ra vô số bất công và đau khổ cho nhân dân chúng tôi. Vì vậy chúng tôi gồm :
- Người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ
- Các Việt kiều ở các quốc gia khác trên thế giới
- 90 triệu người dân Việt Nam ở tại Việt Nam.
Kính xin Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, nước bảo trợ và đại diên cho VNCH ký kết Hiệp Định Paris, cho xét lại việc thực thi hiệp định này với sự chứng kiến của các nước thành viên trong hội đồng bảo trợ Hiệp Định
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Tông Thống đã theo dõi và quan tâm đến đất nước chúng tôi.
Trân trọng kính chào
Đính kèm
- Bản chữ ký những người đệ đơn
- Bản sao Hiệp định Paris
- các bản phụ lục, nghị định về
Hiệp Định Paris .
By English
APPLY FOR REVISING THE PARIS AGREEMENT
Dear :
Mr. President of the United States
I and the undersigned signatories represent
- Vietnamese Americans in the United States
- Overseas Vietnamese in other countries around the world
- 90 million people live in Vietnam.
This application respectfully begs the President to preside over justice for our people, revising the Paris Agreement, which is
AGREEMENT ON ENDING THE WAR AND RESTORING PEACE IN VIET-NAM
Of which the United States represents the Republic of Vietnam signed with the People's Democratic Republic of Vietnam (North Vietnam) In order to end the war, restore peace in Vietnam on the basis of respect for national rights. Basic of the Vietnamese people and self determination of the people of South Vietnam, contributing to the cause of peace in Asia and the world.
Dear President
According to the Paris Agreement, Articles 1 to 8 stipulate the cease - fire, the return of prisoners of war and civilian personnel between the two parties. Article 9 states that:
Chapter IV
Article 9
The Government of the Democratic Republic of Vietnam and the Government of the United States pledge to respect the following principles of self-determination of the people of South Vietnam:
A) The South Vietnamese people's self-determination is sacred, inviolable, and respected by all nations.
(B) The people of South Viet Nam themselves determine the political future of South Vietnam through a truly free and democratic international election.
C) Foreigners shall not impose any political or personal tendency on South Vietnam.
According to Chapter IV, Article 9 of the Paris Agreement, points (a) and (b), the right of self determination of the people of South Vietnam (the Republic of Vietnam) is sacred, inviolable.
And: The people of South Vietnam (the Republic of Vietnam) decide themselves the political future of South Vietnam through free and democratic elections, with international scrutiny.
Two points (a) and (b) have not been implemented.
Regarding point (c): "Foreigners must not impose any political or personal tendency on the people of South Vietnam."
For the people of "South Vietnam" (the Republic of Vietnam) all other countries are foreign, including "Democratic Republic of Vietnam (North Vietnam)".
These countries have pledged not to impose political tendencies (like socialism) or individual trends (such as Ho Chi Minh) on the people of "South Vietnam."
But the "Democratic Republic of Vietnam (North Vietnam)" used force to occupy "South Vietnam", and imposed the socialist political system on "South Vietnam". This is in violation of subparagraph (c), Article 9, Chapter IV of the Paris Agreement.
CHAPTER IV,
Article 11
Immediately after the ceasefire, the two sides of Vietnam will:
To carry out harmony and national reconciliation , to abolish all hostilities, to prohibit any acts of retaliation and discrimination against individuals or organizations that have cooperated with one party or the other.
- Ensuring the democratic freedoms of the people:
* Personal freedom,
* Freedom of speech,
* Press freedom,
* Freedom of assembly,
* Freedom of organization,
* Freedom of political action,
* Freedom of Religion,
* Freedom of movement,
* Freedom of residence.
* Freedom to live,
* Property rights
* Freedom of business.
- The issue of " harmony and national reconciliation, the elimination of all hostilities, the prohibition of all acts of retaliation and discrimination against individuals or organizations that have cooperated with one party or the other."
The Democratic Republic of Vietnam (CS North Vietnam) does not respect. They forced all ARVN soldiers and civil servants to study rehabilitation (in fact, forced labor) in places where the forest was sucked, with no minimum facilities (no electricity, water, medicine, house Where, and bed ) are all made by prisoners themselves. During 3 years to more than a decade. (Many have died at the redevelopment site)
- About the Humain rights and freedoms: Most of these rights are not respected by: Democratic Vietnam, Republic (North Vietnam Communist) .
* Personal freedom: No, people are always controlled by local people and police.
* Freedom of speech: None.
* Press freedom: None
* Freedom of assembly: None (gathering more than 5 people must apply for permission)
* Organizational freedom: None, Only the Communist Party is the only party.
* Freedom of political action: None.
* Freedom of Religion: Violated (many temples, churches forced eviction)
* Freedom of travel: Yes.
* Freedom of residence: None, must be in a place of residence (or temporary residence with declaration)
* Freedom to do business: Yes, but not all jobs.
* Property Rights : Limited. (Because of state land)
* Freedom of business : Limited (There are no licensed jobs, eg electricity, gas, oil, currency)
In summary, North Vietnam communis does not perform harmony, national reconciliation, apply revenge policy to ARVN military personnel and officials.
People are not fully entitled to the rights recognized by international law (Human Rights)
Because of the partner country, the Democratic Republic of Vietnam did not comply with the Paris Agreement they had signed with the United States, causing a lot of injustice and suffering for our people. So we, include:
- Vietnamese Americans in the United States
- Overseas Vietnamese in other countries around the world
- 90 million people live in Vietnam.
Honor the President of the United States of America, the sponsor and the representative of the Republic of Vietnam to signed the Paris Agreement , to review the implementation of this agreement in the presence of the member countries of the treaty sponsoring council.
We sincerely thank President for watching and interest in our country.
Best regards
Attach
- Signature of applicants
- Copy of the Paris Agreement
- Appendices, Decrees
Paris Treaty.


This petition will be delivered to:
⦁ Tổng thống Mỹ (Mr President of the United State)

Ai đã đặt tên cho các đường phố Saigon trước 1975

   Nhà văn Thuần Phong Ngô văn Phát và việc đặt tên đường phố Sàigòn năm 1956. 

Nhà văn Ngô văn Phát, bút hiệu Thuần Phong, sinh quán tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bặc Liêu. 

Nhân đây, tôi cũng xin được gửi lại một vài ý kiến liên hệ của tôi:

“… Nói vào chi tiết hơn, vua Lê Thánh Tôn đã mở mang bờ cõi từ Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Rồi sau đó, chúa Nguyễn Hoàng và con cháu đã vượt đèo Cù Mông, đánh chiếm Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, vĩnh viễn xóa sổ nước Chiêm Thành khỏi bản đồ thế giới. Rồi còn tiếp tục mang về cho dân tộc cả một đồng bằng Nam Phần mênh mông bao la, từ Đồng Nai đến Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên, Phú Quốc... Cũng phải kể luôn cả “Hoàng Triều Cương Thổ” (vùng đất mà thực dân Pháp dành riêng cho các vua nhà Nguyễn) là vùng Cao nguyên Trung phần trù phú mầu mỡ hiện nay. Dĩ nhiên công cuộc mở mang bờ cõi này cũng bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa nữa.

Nghĩa là hơn một nửa diện tích đất liền của Việt Nam hiện nay là do giòng họ của Chúa Nguyễn Hoàng đã mang về cho dân tộc Việt Nam!

Riêng Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần, là người đã có công rất lớn trong công cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt là Chúa Hiền Vương đã đóng góp rất nhiều công sức trong việc bình định và chinh phục vùng đất Gia Định ngày xưa. Gia định ngày xưa bao gồm Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu, Tây Ninh, Phước Long, Bình Long, Long An, Mỹ Tho, Gia Định, Saigon...  bây giờ. Cho nên chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lấy tên của Ngài để đặt cho một trong hai con đường chính từ hướng Bắc dẫn vào trung tâm Thành Phố Saì Gòn. (CSVN đã thay Hiền Vương bằng tên của Võ thị Sáu – Đường Nguyễn Hoàng bị đổi thành Trần Phú…).

Loại bỏ tên cuả Chúa Nguyễn Hoàng, của Chúa Hiền Vương và các vị ân nhân của dân tộc trong công cuộc Nam Tiến ra khỏi bản đồ Sài Gòn và các thành phố Miền Nam là điều mà tục ngữ ca dao bình dân gọi là “ăn cháo, đá bát”.

Đấy là chưa nói tới giấc mộng...Tây Tiến chưa thành. Hai vị trung thần nhà Nguyễn là Lê Văn Duyệt và Trương Minh Giảng đã mở mang bờ cõi nước ta tới tận biên giới… Thái Lan bây giờ, đã thiết lập thêm một Trấn mới là Trấn Tây Thành, (hai Trấn kia là Trấn Bắc Thành và Trấn Gia Định Thành). Phải chăng chính vì vậy mà ngay từ khi vừa dành được chủ quyền từ tay thực dân Pháp, hai con đường lớn từ trung tâm Sài Gòn hướng về Bà Quẹo để sang thẳng đất Miên qua ngả Gò Dầu, đã được mang tên hai vị Anh Hùng Tây Tiến nổi danh này. Đó là đường Trương Minh Giảng và đường Lê Văn Duyệt. Phải chăng đó cũng như là một nhắc nhở cho các thế hệ mai sau về một sứ mạng chưa thành, một “Mission unaccomplished”... 

VŨ LINH CHÂU.

Thuần Phong Ngô văn Phát và việc đặt tên đường phố Sàigòn Nhà văn năm 1956.

Nguyễn văn Luân. 

Trong những năm làm việc tại Tòa Đô Chánh Saigon, tôi có dịp góp phần trông coi việc xây dựng và tu bổ đường xá, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Saigon Tây (Chợ Lớn) gồm 6 quận 5, 6, 7, 8, 10 và 11, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Saigon Đông (Saigon) gồm 5 quận 1, 2, 3, 4 và 9. Hàng ngày họp với các ông cai lục lộ phụ trách từng khu vực, nghe báo cáo đường thì ngập nước sau cơn mưa, đường thì có ổ gà, nhựa đường tróc hết trơ lớp đá xanh đá đỏ nền đường, đường thì dân xây cất trên lộ giới tràn ra lề đường, nên tôi gần như thuộc lòng tên hơn 300 con đường.  

Qua bao nhiêu năm lịch sử của thành phố, hầu hết đều có tên Tây như:

Boulevard Charner

Boulevard Galléni

Boulevard Kitchener

Boulevard Norodom v.v

Sau hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 chính quyền Pháp bàn giao cho chính phủ Bảo Đại, với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.  

Để đánh dấu việc dành độc lập từ tay người Pháp, Toà Đô Chánh Sàigòn được lệnh gấp rút thay thế toàn bộ tên đường từ tên Pháp qua tên Việt trong khoảng thời gian ngắn nhất. Trong lịch sử của các thành phố có bao nhiêu lần đổi tên hàng loạt toàn bộ các con đường như thế này? Có lẽ vô cùng hiếm hoi.  

Việc đối chiếu tên các danh nhân trong lịch sử 4000 năm để đặt tên đường sao cho hợp lý không phải dễ. Chỉ nghĩ đơn thuần, khi dùng tên Vua “Trần Nhân Tôn” và Tướng “Trần Hưng Đạo”, người làm dưới trướng của Vua, để đặt tên cho 2 con đường thì đường nào to và quan trọng hơn? Câu hỏi nhỏ như vậy còn thấy không đơn giản, huống chi cân nhắc cho ngần ấy con đường trong một thời gian gấp rút thật không dễ.  

Lúc bấy giờ công việc này được giao cho Ty Kỹ Thuật mà Phòng Hoạ Đồ là phần hành trực tiếp. May mắn thay cho thành phố có được nhà văn Ngô Văn Phát**, bút hiệu Thuần Phong, có bằng Cán Sự Điền Điạ lúc ấy đang giữ chức Trưởng Phòng Hoạ Đồ.  

Năm 1956, sau hơn ba tháng nghiên cứu, ông đã đệ trình lên Hội Đồng Đô Thành, và toàn bộ danh sách tên đường ấy đã được chấp thuận. Khi tôi vô làm năm 1965 và hàng ngày lái xe đi công trường, đụng chạm với các con đường mới cảm nhận được sự uyên bác về lịch sử của ông. Nhìn những tên đường trên họa đồ, khu nào thuộc trung tâm thành phố, khu nào thuộc ngoại ô, đường nào tên gì và vị trí gắn bó với nhau, càng suy nghĩ càng hiểu được cái dụng ý sâu xa của tác giả.  

Các đường được đặt tên với sự suy nghĩ rất lớp lang mạch lạc với sự cân nhắc đánh giá bao gồm cả công trạng từng anh hùng một lại phù hợp với điạ thế, và các dinh thự đã có sẵn từ trước. Tác giả đã cố gắng đem cái nhìn vừa tổng quát lại vừa chi tiết, những khiá cạnh vừa tình vừa lý, đôi khi chen lẫn tính hài hước, vào việc đặt tên hiếm có này. Tôi xin kể ra đây vài thí dụ, theo sự suy đoán riêng của mình, bởi vì ông có nói ra đâu, nhưng tôi thấy rõ ràng là ông có ý ấy:

Đầu tiên là những con đường mang những lý tưởng cao đẹp mà toàn dân hằng ao ước: Tự Do, Công Lý, Dân Chủ, Cộng Hoà, Thống Nhất. Những con đường hoặc công trường này đã nằm ở những vị trí thích hợp nhất. 

Đường đi ngang qua Bộ Y Tế      thì có tên nào xứng hơn là Hồng Thập Tự.

Đường de Lattre de Tassigny chạy từ phi trường Tân Sơn Nhất đến bến Chương Dương đã được đổi tên là Công Lý, phải chăng vì đi ngang qua Pháp Đình Sàigòn. Con đường dài và đẹp rất xứng đáng. Ba đường Tự Do, Công lý và Thống Nhất giao kết với nhau nằm sát bên nhau bên cạnh dinh Độc Lập. 

Đại lộ Nguyễn Huệ nằm giữa trung tâm Sàigòn nối từ Toà Đô Chánh đến bến Bạch Đằng rất xứng đáng cho vị anh hùng đã dùng chiến thuật thần tốc phá tan hơn 20 vạn quân Thanh. Đại lộ này cũng ngắn tương xứng với cuộc đời ngắn ngủi của ngài. 

Những danh nhân có liên hệ với nhau thường được xếp gần nhau như Đại Lộ Nguyễn Thái Học với đường Cô Giang và đường Cô Bắc, cả ba là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Hoặc đường Phan Thanh Giản với đường Phan Liêm và đường Phan Ngữ, Phan Liêm và Phan Ngữ là con, đã tiếp tục sự nghiệp chống Pháp sau khi Phan Thanh Giản tuẫn tiết. 

Những đại lộ dài nhất được đặt tên cho các anh hùng Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Lê Lợi và Hai Bà Trưng. Mỗi đường rộng và dài tương xứng với công dựng nước giữ nước của các ngài. 

Đường mang tên Lê Lai, người chịu chết thay cho Lê Lợi thì nhỏ và ngắn hơn nằm cận kề với đại lộ Lê Lợi. 

Đường Khổng Tử và Trang Tử trong Chợ Lớn với đa số cư dân là người Hoa. 

Bờ sông Sàigon được chia ra      ba đoạn, đặt cho các tên Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, và Bến Hàm Tử, ghi nhớ những trận thuỷ chiến lẫy lừng trong lịch sử chống quân Mông cổ, chống Nhà Nguyên cuả Hưng Đạo Đại Vương vào thế kỷ 13.

Cụ Nguyễn Du, mà thầy đồ Thiệp, người dạy học vỡ lòng cho tôi, khi nói chuyện với cha tôi, bao giờ cũng gọi      với danh xưng Cụ Thánh Tiên Điền. Cuốn truyện Kiều của cụ ngày nay được chúng ta dùng như là khuôn mẫu cho tiếng Việt, khi có sự tranh luận về danh từ hay văn phạm, người ta thường trích một câu Kiều làm bằng. Vậy phải tìm đường nào đặt tên cho xứng? Tôi thấy con đường vừa dài vừa có nhiều biệt thự đẹp, với hai hàng cây rợp bóng quanh năm, lại đi ngang qua công viên đẹp nhất Saigon, vườn Bờ Rô, và đi ngang qua Dinh Độc Lập, thì quá xứng đáng. Không có đường nào thích hợp hơn. Tuyệt! Vườn Bờ Rô cũng được đổi tên thành Vườn Tao Đàn làm cho đường Nguyễn Du càng thêm cao sang. 

Vua Lê Thánh Tôn, người lập ra Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, cũng cho mang tên một con đường ở địa thế rất quan trọng, đi ngang qua một công viên góc đường Tự Do, và đi trước mặt Toà Đô Chánh. 

Trường nữ trung học Gia Long lớn nhất Sài gòn thì, (trớ trêu thay?), lại mang tên ông vua sáng lập nhà Nguyễn. Trường nữ mà lại mang tên nam giới! Có lẽ nhà văn Thuần Phong muốn      làm một chút gì cho trường nữ trung học công lập lớn nhất thủ đô có thêm nữ tính, nên đã đặt tên hai đường song song nhau cặp kè hai bên trường bằng tên của hai nữ sĩ: Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm. Chùa Xá Lợi nằm trên đường Bà Huyện Thanh Quan thấy cũng nhẹ nhàng. 

Thẳng góc với hai đường Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm là đường Hồ Xuân Hương. Ba nữ sĩ nằm bên cạnh nhau, thật là có lý, nhưng có lý hơn nữa có lẽ là đường Hồ Xuân Hương đi ngang qua bệnh viện Da Liễu. Tác giả những câu thơ “Vành ra ba góc da còn thiếu, Khép lại hai bên thịt vẫn thừa” mà cho mang tên đường có bệnh viện Da Liễu có lẽ cũng xứng hợp.

Ông Nhà Văn - Trưởng Phòng Họa Đồ quả là sâu sắc.  

Rất tiếc là lúc vào làm việc thì Thuần Phong Ngô văn Phát đã về hưu nên tôi không được hân hạnh gặp mặt. Mãi sau này mới có dịp đọc tiểu sử của ông, mới hết thắc mắc làm sao chỉ là một công chức như tôi mà ông đã làm được việc quá xuất sắc và hi hữu này. 

Nhà văn, nhà họa đồ Ngô Văn Phát, bút hiệu Thuần Phong, Tố Phang, Đồ Mơ, sinh ngày 16-10-1910 tại huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.  

Thuở nhỏ học ở Bạc Liêu, Sài Gòn, đậu bằng Thành Chung rồi nhập ngạch họa đồ ngành công chánh. Ông ham thích văn chương từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, từng có thơ đăng trên Phụ nữ tân văn, họa mười hai bài Thập thủ liên hoàn của Thương Tân Thị... Có lúc ông dạy Việt văn tại trường Pétrus ký Sài Gòn.  

Năm 1957 ông có bài đăng trên bộ Tự điển Encyclopedia - Britannica ở Luân Đôn (Anh Quốc). Đó là chuyên đề Khảo cứu về thành phố Sài Gòn.  

Năm 1964 chuyên đề Ca dao giảng luận in trên tạp chí Trường Viễn đông Bác cổ ở Paris (sau in thành sách ở Sài Gòn). Cùng năm này Trường Cao học Sorbonne (Paris), ông cũng có chuyên đề Nguyễn Du et la métrique populaire (Nguyễn Du với thể dân ca) trong bộ sách nhan đề: Mélanges sur Nguyen Du (Tạp luận về Nguyễn Du).  

Những năm 70 ông được mời giảng môn Văn học dân gian tại Đại học Văn khoa, Sư phạm Huế và Cần Thơ.  

Ông mất trong năm 1983 tại Sài Gòn. 

Tháng 4 của những xót xa

Giá như không có tháng 4 đau xót ấy, có lẽ đã chẳng có một nước Việt buồn như ngày hôm nay. Giá như mà không có cái gọi là “bên thắng cuộc” ấy thì có lẽ hàng triệu người dân Việt đã không biết đến chia ly, tù đày, chết chóc và cả đau thương vô tận.
Tháng tư ấy chẳng phải chỉ gieo những xót xa vào những người dân Miền Nam. Nó còn là những đau thương mà người dân Miền Bắc cũng phải gánh chịu từ chết chóc, thương tật của cái gọi là “sinh bắc tử nam”.
Chẳng có người dân thường hai miền Nam – Bắc nào vui trong tháng 4 của những xót xa. Chỉ có những chiếc ngai vàng ở tận Bắc Kinh xa xôi rung lên điệu cười hoan hỉ vì chúng biết rằng, giấc mộng thâu tóm toàn bộ đất nước Việt Nam đã sắp thành hiện thực bởi vì đàn em của chúng đã giúp chúng thực thi cái công việc gọi là “Đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.
Tháng 4 ấy, cũng làm cho những bộ răng hô, những gương mặt quỷ ám từ Ba Đình cười lên những tiếng cười man rợ bởi vì chúng đã cướp được cả một Miền Nam trù phú, giàu có để về làm của riêng cho chúng.
Cũng trong cái tháng tư ấy, lá cờ Vàng mang theo bao nhiêu truyền thống của dân tộc Việt Nam đã chẳng thể công khai tung bay trong gió, chí ít là trên một nửa phía nam của đất nước hình chữ S. Nó đã bị “sỉ nhục” bởi những quyển sách lịch sử láo khoét, của những cái lưỡi gỗ không hề biết sĩ diện là gì. Đảng CSVN lấy tư cách là “kẻ thắng cuộc” để cố tình lấp liếm đi cái sự thật thực sự về một lá cờ mang hồn thiêng dân tộc. Thay vì lá cờ ấy, đảng CSVN bắt người dân phải tôn thờ một lá cờ mang từ Phúc Kiến bên Tàu về, đảng nhồi nhét vào đầu người dân những sự gian dối đến từ cái đầu đầy mưu mô ác hiểm của một bầy quỷ cướp. Từ đó, tháng 4 lại thêm phần xót xa.
Từ tháng 4 xót xa ấy, những mảnh đất của quê hương mang trong đó biết bao xương máu của Cha Ông đã dần được cái gọi là “đảng quang vinh” đem dâng lên thiên triều cộng sản Trung Quốc. Kể từ tháng 4 ấy, nước Việt thật sự chỉ còn cái tên mà thôi. Bởi vì nó đã không còn được độc lập như người dân thường lầm tưởng.
Từ trong gió thoảng, tháng 4 ấy mang theo những con sóng cồn của biển Đông đang ào ạt xô những con thuyền tị nạn nhỏ bé hay những cái rét cắt da thịt của núi rừng Tây Bắc nơi những người tù không biết ngày nào trông thấy ánh nắng Miền Nam. Tháng 4 ấy, mang theo cả những mùi tanh của máu người dân Việt Nam đổ xuống bởi loài quỷ đỏ như lời của bài hát “Đêm Việt Nam” của Hà Thúc Sinh trong “Đại Học Máu”:
“Đêm thế giới đang dồn một lần
Trên đất nước tôi gọi Việt Nam
Đêm bát ngát những khu trại giam
Đời thênh thang thu hẹp dần dần
Đêm em bé lên mười cũng gần
Anh chiến sĩ gốc biệt động quân
Đêm thiếu nữ áo đơn tạm thu
Ngồi kề vai gái giang hồ lo
Đêm đấu tố, và thủ tiêu
Đêm săn bắt cho đầy chỉ tiêu
Người chết nhanh, người phát điên
Đêm cáo chung tự do nhân quyền
Đêm nhức buốt phang bằng chầy vồ
Vang tiếng thét sau cùng "Tự do"
Đêm có tiếng súng sau trại giam
Người tù binh chết bên bìa rừng
Đêm thế giới đang dồn một lần
Trên miếng đất đã thừa lầm than
Đêm trút xuống hố sâu diệt vong
Là Việt Nam nước tôi buồn tênh.”
Thế nhưng, đã có rất nhiều người quên ngày tháng 4 ấy. Họ đã phản bội lại lời thề của những người tị nạn. Họ lại quay về để vui trong những niềm vui được vinh danh, được ăn chơi trong quay cuồng xác thịt, rượu bia nơi xứ sở của những con quỷ đỏ đang ngồi cười rung đùi thu USD vào túi. Đó là những điều làm cho tháng 4 của chúng ta lại thêm phần đau xót.
Cứ mỗi tháng 4, chúng ta nhớ về dân tộc, nhớ về những tháng ngày xót xa. Cứ mỗi tháng 4 chúng ta lại kính cẩn chào lá cờ Vàng dân tộc. Nhưng rồi sau đó, một sự xót đau lại đến trong lòng khi bọn thái thú Ba Đình vẫn đang chễm trệ trên ngôi cao để đàn áp người dân thường và dâng dần đất đai tổ tiên cho giặc Trung Cộng.
Có lẽ, đã đến lúc chúng ta cần phải đứng dậy thật thẳng người và làm việc thật sự để xoa dịu đi những nỗi đau trong tháng 4 rỉ máu. Chỉ chào cờ và tưởng niệm là chúng ta không đủ để thể hiện về tình yêu quê hương dân tộc Việt Nam. Hãy bắt tay vào làm việc thật sự có hiệu quả chứ không phải chỉ làm việc để kiếm danh lợi cho cá nhân, tổ chức mà thôi. Hãy bóp chết nền kinh tế của cộng sản để trả thù cho những tháng 4 rỉ máu bằng cách thôi gửi tiền đầu tư làm ăn, thôi về Việt Naam ăn chơi của một số người. Chỉ có thế, nỗi đau của tháng 4 rỉ máu mới dần được nguôi ngoai...
Tháng 4, khi mùa xuân đến đáng lẽ là lúc mọi người sẽ hạnh phúc hơn trong ngày xuân nắng ấm thì trên thế gian này, có một dân tộc lại bắt đầu những tháng ngày đau khổ và xót xa. Dân tộc đó chính là là dân tộc của chúng ta – Việt Nam.
Tháng 4 của những xót xa lại đến, xin cùng chung tay, chung lòng xóa bỏ chế độ cộng sản Việt Nam để nỗi đau sẽ lui dần trong lòng người dân. Hãy biến những đau thương của tháng 4 xót xa thành những sức mạnh thật sự để xóa bỏ bạo tàn cộng sản.
Tháng 4, cả dân tộc Việt Nam cúi đầu trước những xót xa !
Đặng Chí Hùng
24/04/2017

CÁI CHẾT CỦA VNCH

Ngày 30.4.1975 là thời điểm kết thúc của VNCH, một sự kết thúc hết sức bi thảm vượt ra ngoài suy nghĩ của những người miền nam. Có người gọi đó:

1.Ngày miền nam bị bức tử
2.Ngày của "Cái ác" lên ngôi.
3.Ngày bị gảy súng
4.Ngày sâu bọ lên làm người.
5. Ngày tan hàng..
6. Ngày quốc tang của người miền nam
7. Ngày quốc hận...

Còn rất nhiều cách nói để diễn tả về ngày đen đủi này của nước VNCH. Tuy nhiên về nguyên nhân thì người trẻ chúng tôi đi tìm những tài liệu lịch sử sẳn có trên mạng để chia sẻ cùng với những người trẻ trong nước. Khi tìm hiểu về cái chết của VNCH, chúng tôi nhận thấy rằng mình phải trở về với giai đoạn của các bối cảnh trước khi xảy ra hoà đàm Paris, cho đến ngày miền nam bị thất thủ. Bài viết này chỉ là một góc nhỏ của lịch sử cận đại nói về khó khăn của chính quyền đệ nhị Cộng Hoà trong cuộc chiến tự vệ của VNCH do Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu lãnh đạo.

Bối cảnh Chính trị đưa đến Hòa Đàm Paris

Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân (tháng 2-1968) là một thất bại nặng nề về quân sự của phe Cộng sản, với tổng số thương vong gần 39.000, trong đó có 33.249 quân tử trận, so với phía Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Hoa Kỳ chỉ có khoảng 15.000 thương vong, trong đó có 3.470 tử trận. Về mặt chính trị, tại Hoa Kỳ, các phong trào phản chiến rầm rộ nổi khắp nơi trên đất Hoa Kỳ, làm ảnh hưởng không ít đối với những quyết định của Quốc Hội Hoa Kỳ khi biểu quyết về chiến tranh VN. Các chiến lược của Hoa Kỳ ở vùng Đông Dương cũng từ đó bĩ thay đổi. Các phong trào phản chiến đã làm ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của của Tổng Thống đương nhiệm. Đó là một thời điểm không may, dẩn dần đến sự bất lợi hoàn toàn về chính trị cho phía VNCH.

Tổng Thống Lyndon B. (Baines) Johnson quyết định xuống thang chiến tranh và tìm cách thương thuyết để rút quân ra khỏi Việt Nam. Ngày 31-3-1968, ông tuyên bố không ra tranh cử tổng thống nữa, quyết định ngưng oanh tạc Miền Bắc, và kêu gọi Bắc Việt đến bàn hội nghị. Và hai bên chính thức khởi sự thương thuyết công khai tại Paris, Pháp, từ ngày 13-5-1968. Về phía Hoa Kỳ, trưởng và phó phái đoàn thương thuyết là các ông Averell Harriam và Cyrus Vance. Về phía Bắc Việt là các ông Xuân Thủy và Hà Văn Lâu. Cuộc hoà đàm đã kéo dài gần 4 năm chín tháng gồm 202 phiên họp công khai và 24 phiên họp kín, kết thúc vào ngày 27/1/1973 và có hiệu lực 1 ngày sau đó tức ngày 28.1.1973 và văn bản này hết hiệu lực sau khi kết thúc cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào ngày 25.4.1976. Bản văn Hiệp Định Paris gặp sự chống đối mạnh mẽ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vì đây là một văn bản hoàn bất lợi cho phía VNCH. Tổng Thống Hoa Kỳ là Nixon, đã nhiều lần doạ dẫm và đói đảo chính, cắt viện trợ quân sự..v..v..cuối dưới áp lực quá mạnh của Hoa Kỳ, ông Thiệu đành ngậm ngùi cho thông qua, mặc dù biết số phận VNCH sẽ bi đát trong những ngày tháng sau khi ký HĐ Paris. Và điều gì phải tới cũng đã tới đó là ngày 30.4.1975.

Ngày 21-4 Ông Thiệu từ chức bàn giao cho ông Hương, ngày 24-3 hai ông Thiệu và Khiêm ra đi, tinh thần quân lực VNCH bị suy sụp. Ngày 26-4 Cộng quân bắt đầu mở chiến dịch tấn công Sài gòn, ngày 28-4 Đại tướng Dương Văn Minh lên thay thế ông Trần văn Hương, các phòng tuyến của ta sụp đổ dần dần trước các đợt tấn công pháo kích của địch. Ngày 30-4-1975 Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng kết thúc cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ.

Nhiều người kết án ông Thiệu cho lệnh rút bỏ Quân Khu II và I đã đưa tới sự sụp đổ toàn bộ VNCH. Ông Thiệu là nguyên nhân gần gây nên sự sụp đổ, nhưng nếu kết án ông ta là nguyên nhân duy nhất thì không đúng lắm, bài viết nơi đây không phải để bênh vực cho ông Thiệu, nhưng chúng ta không thể nói sai lịch sử. Về phía VNCH người đồng minh Hoa Kỳ đã bắt đầu chơi ép ông Thiệu cắt giãm lần lần quân việc sau khi rút quân về. Các kho dự trử đạn dược lần hồi đi đến kiệt quệ không còn khả năng đẩy lui được các cuộc tổng tấn công của địch . Các phương tiện tản thương bằng trực thăng cũng bị giảm làm số tử vong lên cao. Đến khi xin viện trợ khẩn cấp của Hoa Kỳ, thì gặp trở ngại về phía đảng Dân Chủ, cánh này nắm đa số tại Quốc Hội. Họ chủ trương cắt hoàn toàn quân viện bỏ rơi miền Nam VN một cách vô nhân đạo.

Nửa năm sau Hiệp định Paris, Quốc hội Dân chủ ra luật cắt hết mọi ngân khoản dành cho chiến tranh Đông Dương của Hành pháp. Nixon không còn quyền hành để bảo vệ đồng minh tại nơi đây.

Đó cũng là lý do do mà những hậu duệ chúng tôi không có cái nhìn thiện cảm với đảng Dân Chủ trong quốc hội Hoa Kỳ. Một bài học qúi giá về tinh thần tự quyết dân tộc. Một tinh thần mà ngày xưa dưới các thể chế quân chủ ở nước ta đặt hàng đầu trong các quyết định đánh quân xâm lược phương bắc để bảo toàn chủ quyền về lãnh thổ của Đại Việt, của Nam Quốc Sơn Hà Nam Đé Cư.

Vì thế ngoài nguyên nhân quân sự nêu trên còn những nguyên nhân khác đóng góp vào sự sụp đổ miền Nam. Một nguyên nhân gần nữa và vô cùng quan trọng ở đây là vấn đề cắt quân viện, dẩn đến cái chết của VNCH.

HOA KỲ CẮT QUÂN VIỆN.

Vấn đề cắt quân viện đã manh nha từ đầu thập niên 1970. Cuộc “Hành quân qua Kampuchia" vào năm 1970 đã tạo ra phản ứng chống đối dữ dội của Quốc Hội Mỹ vì họ cảm thấy bị ngành hành pháp che dấu sự thật. Tháng 6.1970, Thượng viện đã biểu quyết với đa số chấm dứt nghị quyết Vịnh Bắc Việt trao toàn quyền hành động cho Tổng Thống Mỹ. Hai Thượng Nghị Sĩ John S. Cooper (đảng Cộng Hoà, tiểu bang Kentucky) và Frank F. Church (đảng Dân Chủ, tiểu bang Idaho) một thành viên của Ủy ban Ngoại Giao Thượng Viện đã đề nghị một tu chính án cắt tất cả phí tổn về quân sự của Mỹ tại Miên kể từ ngày 1.7.1970. Sau 7 tuần lễ tranh cãi, Thượng Viện Mỹ biểu quyết vào cuối tháng 6.1970 với 58 phiếu thuận và 37 phiếu chống. Tuy nhiên Hạ Viện đã bác bỏ tu chính án này. Tu chính án do đó được sửa đổi lại và được biểu quyết chấp thuận vào tháng 12. Theo đó Mỹ không được đưa quân tác chiến qua Lào và Thái Lan.

Lần đầu tiên Tổng Thống Mỹ với tư cách Tổng Tư Lệnh Quân đội bị giới hạn quyền hành trong tình trạng chiến tranh. Một tu chính án khác do hai Thượng Nghị Sĩ George Mc Govern (đảng Dân Chủ, tiểu bang South Dakota) và Mark O.Hatfield (đảng Cộng hoà, tiểu bang Oregon) đã đề nghị rút tất cả quân đội Mỹ và cắt tất cả quân viện cho VNCH vào cuối năm 1971. Tuy nhiên Thượng Viện Mỹ đã bác bỏ hai lần (1970 và 1971) tu chính án này. Năm 1973, Quốc Hội Mỹ biểu quyết chấp thuận tu chính án do Frank Church và Thượng Nghị Sĩ Clifford (đảng Cộng Hoà) chấm dứt tất cả quân viện cho các nước Đông Dương.” Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập trang 510 Tháng 6-1973 Quốc Hội Mỹ biểu quyết cắt ngân khoản cho tất cả các hoạt động quân sự tại Đông Dương, ngày 1-7 Nixon miễn cưỡng ký thành luật áp dụng kể từ 15-8. Đến tháng 10-73 Quốc Hội lại thông qua dự luật Quyền Hạn Chiến Tranh (War powers Act) buộc Tổng Thống phải tham khảo ý kiến Quốc Hội trước khi gửi quân đi tham chiến. Ý định phản bội của người bạn đồng minh đã bắt đầu lộ diện.

Khi người Mỹ mới đổ quân ồ ạt vào Việt Nam năm 1965 ngân sách năm ấy mới có 646 triệu đô la, năm sau 1966 tăng vọt lên gần 6 tỷ, đến 1967 tăng lên 20 tỷ, năm 1968 tăng lên 26 tỷ năm 1969 lên 29 tỷ, hai năm 1970, 1971 xuống còn 12 tỷ vì Mỹ đang rút quân. Năm 1972 họ rút gần hết chỉ còn 24,200 người khi ấy miền Nam phải một mình gánh vác chiến trường với tiền viện trợ ngày một bị cắt giảm. Năm 1973 Quân viện là 2 tỷ 1, sang năm 1974 chỉ còn 1 tỷ 4, năm 1975 tụt xuống còn 700 triệu trong đó 300 triệu để trả lương cho nhân viên cơ quân tuỳ viên quân sự DAO của Mỹ. VNCH chỉ nhận được một nửa số quân viện cần thiết.

Năm 1975 đảng Dân Chủ nắm đa số tại Quốc Hội Mỹ, họ chủ trương bỏ Đông Dương không cần biết hậu quả cũng như danh dự cho nước Mỹ. Về thế lực cũng như tài chính Dân chủ thua kém Cộng Hoà nên chỉ thừa cơ nước đục thả câu, lợi dụng sơ hở của Cộng Hòa để thọc gậy bánh xe. Họ thường o bế giới bình dân, da đen, Mễ miếc, cu li cu leo khố rách áo ôm, đám trốn lính, chống chiến tranh … để lấy lòng kiếm phiếu. Họ chớp đúng thời cơ khi phong trào phản chiến lên cao được dân chúng ủng hộ để nắm đa số tại Quốc Hội và thẳng tay bỏ rơi đồng minh không thương tiếc, cái mà ông Nguyễn Tiến Hưng gọi là “nhát gươm đao phủ”.

“Ngay sau đó, 13 tháng Ba, nhát gươm đao phủ đã hạ xuống: ban lãnh đạo Đảng Dân Chủ, cả Hạ Viện lẫn Thượng Viện (họ lại là thành phần quyết định trong Quốc Hội) bỏ phiếu với đa số: chống bất cứ viện trợ nào thêm cho Miền nam” , trích từ cuốn "Khi Đồng Minh Tháo Chạy trang 245" của Nguyễn Tiến Hưng.

VNCH BẾ TẮC VỀ TIẾP LIỆU:

Theo Đại Tướng Cao Văn Viên hậu quả của cắt giảm quân viện là không quân phải cho hơn 200 máy bay ngưng bay.. giảm giờ bay, huấn luyện 50%, số giờ bay thám thính 58%, phi vụ trực thăng giảm 70%.. Hải quân cũng bị cắt giảm hoạt động 50%, 600 tầu xuồng các loại nằm ụ, các chiến cụ, quân dụng hư hỏng không được thay thế, chỉ có khoảng 33% được thay mà thôi. Tổng số đạn trong kho chỉ đủ dùng cho đến tháng 6-1975, thuốc men thiếu thốn, số tử vong lên cao khiến tinh thần binh sĩ xuống thấp.

Người Mỹ ký hiệp định Ba Lê để rút quân ra khỏi VN và lấy tù binh về không đếm xỉa gì tới sự tồn vong của miền Nam nước Việt. Sir R Thompson, chuyên viên về du kích chiến cho rằng miền Nam bị đe doạ chỉ vì để cứu nước Mỹ khỏi cảnh xâu xé nhau, miền Bắc bị buộc phải ngồi vào bàn hội nghị để cứu nước Mỹ. Ông M.Gauvin nguyên chủ tịch Ủy Hội Kiểm Soát Quốc tế tuyên bố ngày 4-4-1975 cho rằng miền Nam VN thất bại do quyết tâm bỏ rơi đồng minh của Mỹ. Và Mỹ đã đâm sau lưng người đồng minh của mình.

“Còn về khả năng tồn tại, ông cho là ‘vẫn còn tùy thuộc vào số quân viện Hoa Kỳ cung cấp cho VNCH’. ĐT Viên kết luận “Một sự thật không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6-1975 nếu không nhận được quân viện phụ trội. Và một quân đội sẽ không thể nào chiến đấu nếu không có những trang bị cần thiết để chiến đấu” Nguyễn Tiến Hưng, Khi Đồng Minh Tháo Chạy (KĐMTC) trang 457"

Khi lập luận như trên người ta sẽ đạt thêm câu hỏi tại sao họ lại bỏ rơi VNCH? ông Nguyễn Tiến Hưng cho biết
“Tại sao Mỹ lại dứt khoát bỏ rơi Miền nam? Câu trả lời ngắn gọn là vì quyền lợi của Mỹ ở Việt nam đã không còn nữa” KĐMTC trang 455.

Đau đớn thay một quân lực, chỉ vì quyền lợi của những cường quốc, những tham vọng thoả hiệp trên bàn cờ quốc tế, đồng minh tin cậy nhất đã phản bội họ, đâm sau lưng họ, bằng "một nụ hôn Du Đà bán Chúa" qua Hiệp Định Bàn Tròn Ba Lê năm 1972, từ đó ngưng tiếp tế vũ khí, trói tay bạn trên chiến trường, lũng loạn hậu trường chính trị để làm nản chí và mất niềm tin chiến đấu, tạo điều kiện thuận lợi và dọn đường cho bọn Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam.

QLVNCH thất trận không phải vì thua kém, mà vì không có cơ hội chiến đấu. "Cọp trong cũi sắt phải giương mắt nhìn", để đám khỉ “nhảy bàn độc” mặc tình bày trò nhố nhăng. Những niềm đau, nỗi nhục sau khi cuộc chiến kết thúc, đã kéo dài 42 năm qua và còn mãi mãi, chết vẫn chưa quên! Như vết sẹo hằn sâu trên cơ thể nhắc nhở hoài đau thương, và vết thương chỉ lành hẳn khi nào QLVNCH có cơ hội chiến thắng lại kẻ thù qua bất cứ hình thức nào, thì niềm đau kia mới phai mờ.

Như một phép lạ, quân lực VNCH khi bị bỏ rơi, vẫn kiên nhẫn, vẫn kiên cường chiến đấu đơn độc, vẫn chiến đấu dũng cãm chống kẻ thù đông hơn gấp bội, với vũ khí tối tân và dồi dào hơn gấp nhiều lần, với sự yểm trợ tích cực không điều kiện từ tinh thần đến vật chất của Liên Xô, Trung Quốc và cả khối Cộng Sản Quốc Tế. Quân lực VNCH vẫn gan dạ, sừng sững như núi, hy sinh vững vàng chiến đấu. Nếu cấp chỉ huy của họ không ra lệnh buông súng, quyết định sống mái tới giây phút cuối cùng. Thì chưa chắc ngày hôm nay phần thắng đã thuộc về ai? 30.4.1975 lịch sử nói về VNCH đã sang trang.

Như trên đã phân tích về cái chết của VNCH vào ngày 30.4.1975, chúng ta thấy rất rỏ là VNCH đã qúa lệ thuộc vào viện trợ quân sự của Hoa Kỳ nên không thể tự quyết trước những quyền lợi chính đáng của VNCH. Hiệp định Paris hoàn toàn bất lợi cho VNCH, đã bị ông Thiệu phản đối kịch liệt ngay từ đầu nhưng rồi cuối cùng cũng phải đặt bút ký để giải toả sức ép của Hoa Kỳ, một đồng minh không thuỷ chung trên con đường chống lại sự xâm lăng của cộng sản Bắc Việt đến nơi đến chốn. Số phận của VNCH vào 42 năm trước đây là bài học qúi giá cho hậu duệ VNCH trong thời kỳ cứu nước và giử nước tương lai.

Nhưng kể từ khi vận nước nổi trôi thì Tháng Tư đã để lại một vết thương nhức nhối trong lòng người Việt Quốc Gia chẳng biết đến bao giờ mới lành miệng. Nhà thơ Khiếu Như Long đã trút cạn tâm sự cùng các chiến hữu với bài "Tháng Tư Uất Hận", mà người viết dùng để kết thúc bài viết.

Tháng Tư mình mất cuộc đời
Ngày buông tay súng chơi vơi hận cuồng
Trời quê hương chợt nhuốm buồn
Một đời chinh chiến hào truông biên thùy.

Lê Kim Anh,1/4/2017

Thư kính gửi Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump

LS Lê Trọng Quát, Chủ Tịch Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết Việt Nam

Kính gửi Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump

Kính thưa Tổng thống,

Trước hết tôi xin chuyển đến Ngài lời chúc thành công trong nhiệm vụ cao quí mà Ngài vừa đảm nhận với quốc dân Hoa Kỳ.

Dù ở bên này Đại Tây Dương, tôi vẫn nghĩ rằng sứ mạng của Ngài còn ảnh hưởng đến Âu Châu và Thế giới. Lịch sư cận đại, hiện tượng toàn cầu hóa và tình trạng địa-chính trị đều dẫn đến mối liên hệ khắng khít này.

Như Ngài đã thấu rõ, Á Châu và đặc biệt là Đông Á-Thái Bình Dương sát cạnh quí quốc đang đối phó với hiểm họa ở phia Bắc:

- sự đe dọa một hành động gây chiến bằng vũ khí nguyên tử đến từ Bắc Hàn với Kim Jong Un, một nhà lãnh đạo tồi tệ mà tâm trí không được bình thường và

- ở phía Nam, Tập Cận Bình, một lãnh tụ đã và đang khống chế Vùng trời và Biển Đông, chiếm đoạt và quân sự hóa nhiều quần đảo của các nước láng giềng, bất chất luật pháp quốc tế, đe dọa kiểm soát tuyến đường biển cực kỳ quan trọng từ Ấn Độ Dương vào Thái Bình Dương.

Vị lãnh tụ này, chủ tịch Trung quốc, sắp đến thăm Ngài trong vài hôm tới đây.

Phản ảnh sự lo ngại sâu xa và phẩn nộ chính đáng của dân Việt Nam trong nước cũng như của cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà đa số là công dân Hoa Kỳ của Ngài và đang ủng hộ Ngài, tất cả đang biểu tình sôi động chống Trung Cọng chiếm cứ các quần đảo Hoàng sa và phần lớn Trướng sa của Việt Nam, tôi trân trọng thỉnh cầu Ngài cảnh báo ông Tập Cận Bình phải từ bỏ dứt khoát các ý đồ bành trướng trên lãnh thổ và biển đảo của các quốc gia trong vùng Đông Nam Á đặng sống chung hòa bình và tôn trọng lẫn nhau.

Cũng chính nhân cơ hội này, tôi tưởng là rất thích hợp kính nhắc Ngài và chủ tịch Tập Cận Bình rằng quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa) , chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, sự thống nhất hai Miền Nam, Bắc Việt Nam bằng một tiến trình hòa bình……….đều được bảo đảm tôn trọng bởi mười hai quốc gia ký kết Hiệp Định Paris ngày 27 tháng 1, 1973 và trong số chính yêu là 

Hoa Kỳ, Trung Quốc, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Băc Việt Cộng sản) và 

Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam Tự Do ) chúng tôi.

Vì vậy và vì danh dự lớn lao của quí quốc, đã chủ trì Hội Nghị Paris, tôi xin Ngài cảnh báo ông Tập Cẩn Bình phải tôn trọng chủ quyền và lãnh hải của nước Việt Nam, không can thiệp vào nội tinh của Việt Nam đặng cho dân tộc Việt Nam thực hiện quyền tự quyết định lấy vận mệnh của họ trên các nguyên tắc tự do, dân chủ, giữa tất cá các thành phần của dân chúng họ.

Thể hiện khát vọng tự do, dân chủ của toàn dân Việt trong nước và ở hải ngoại, tôi xin Ngài thể nhận nơi đây lòng tri ân sâu xa nhất của chúng tôi.

Paris, ngày 4 tháng 4, 2017

Chủ Tịch Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết Việt Nam

LS Lê Trọng Quát,nguyên Đệ nhất Quốc-Vụ-Khanh

Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa

Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Phòng Quốc Hội

Hội Thẩm Viện Bảo Hiến VNCH

                 ***********************************************

Tấn Thảm Kịch 1975
Trọng Đạt

1. Melvin R.Laird, cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ dưới thời Nixon, sau mấy chục năm im lặng mới lên tiếng gần đây. Ông nói rằng chiến tranh Việt Nam không thể kết luận là một sự sai lầm, theo ông Hoa Kỳ đã chuốc lấy thất bại và bỏ lỡ nhiều cơ hội chiến thắng. Mục tiêu cuộc chiến tranh Việt Nam hồi ấy là để ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản tại Á Châu. Cựu Bộ trưởng Laird chỉ trích Hoa Kỳ năm 1975 đã bỏ rơi Đồng Minh Việt Nam, ông nói rằng điều xấu hổ không phải là Hoa kỳ có mặt từ lúc đầu mà là sự phản bội vào giờ phút chót.

Quốc Hội Hoa Kỳ đã ngoảnh mặt làm ngơ trước những lời cam kết với Việt Nam của Chính phủ Nixon trước đó. Melvin R. Laird nói rằng Tổng Thống Ford, Bộ Trưởng Ngoại Giao Kissingger, Bộ Tưởng Quốc Phòng Schlesinger phải chia xẻ nỗi nhục này, cũng theo ông Quốc Hội là nguyên nhân chính trong việc bỏ rơi Ðồng minh qua một số quyết định như:

1- Chấm dứt can thiệp quân sự (8-1973). 
2- Cấm can thiệp trở lại Việt Nam. 
3- Cấm trả đũa nếu Hiệp định Paris bị vi phạm.
4- Giảm quân viện từ 1 tỉ 4 xuống còn 700 triệu vào năm 1974.
5- Từ chối yêu cầu của Tổng thống Ford xin viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam đầu tháng 4-75.

Cũng theo Laird, Tổng Thống Ford đã bác bỏ thuyết Dominoes đã có từ 7-4-1954 dưới thời Tổng Thống Eisenhower cho rằng hễ mất một nước sẽ mất luôn nhiều quốc gia khác.

Vào ngày 10-3-2006 hằng trăm chuyên viên, chính trị gia nghiên cứu về sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam đã tề tựu tham gia cuộc hội thảo tại Thư viện Kennedy thành phố Boston. Họ thảo luận đề tài “Chiến tranh Việt Nam và các Tổng Thống Hoa kỳ”. Các chuyên viên cho rằng đó là một cuộc chiến đầy những tai họa. Bà Giám đốc Thư viện nói các vị Tổng thống Hoa kỳ đã dìm nước Mỹ ngày càng lún sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam, họ tin rằng điều mình đang làm là phải nhưng đó chỉ là một sự liều lĩnh, theo bà, một sử gia nói nó chỉ là một sự tính toán sai lầm về chính sách trong lịch sử đối ngoại của Hoa Kỳ. Một sử gia là diễn giả trong buổi hội thảo nói có một vài cuộc chiến tranh là chính đáng, theo ông cuộc chiến tranh Việt Nam không chính đáng.

Trên đây là hai ý kiến trái ngược nhau, một bên mà đại diện là cựu Bộ Trưởng Laird cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam không thể coi là một sự sai lầm và ngược lại những người tham dự buổi hội thảo tại Boston cho rằng cuộc chiến này sai lầm. Cuộc chiến tranh ấy đã khiến Hoa kỳ phải tốn kém 300 tỷ đô la đã khiến 58 ngàn lính Mỹ thiệt mạng, đất nước bị xáo trộn về chính trị cũng như kinh tế, chưa kể phải mang tiếng nhục bại trận. Luận điệu kể trên của những chuyên viên chính trị gia trong cuôc Hội thảo cho thấy cái nhìn thiển cận và sự ích kỷ quá đáng của một số người, họ chỉ những cái “mất” và không để ý tới những cái “được”. Tất cả những sự mất mát đó chỉ là cái giá mà họ phải trả để được bắt tay với Mao trạch Ðông ngày 21-2-1972. Ðiều mà chính phủ Hoa Kỳ mong ước bao lâu nay đã thành sự thật, họ đã chiêu hồi được Trung quốc, anh khổng lồ không còn là mối đe dọa tài sản tính mạng của Hoa Kỳ, hơn thế nữa họ lại được cả một thị trường to lớn rộng mênh mông.

Theo chúng tôi nghĩ các chuyên viên, chính trị gia ấy chắc cũng phải thừa biết như vậy và sự giả vờ ngây thơ của họ cho thấy họ không thẳng thắn nhìn nhận sự thật. Các vị Tổng Thống Hoa Kỳ chắc hẳn không sai lầm chút nào khi dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam vì họ là những nhà chính trị gia lỗi lạc. Người Mỹ chỉ kêu ca những sự thiệt hại cuộc chiến tranh ấy đã gây ra cho đất nước họ, thế còn đất nước nạn nhân đã là bãi chiến trường của bom đạn, binh đao khói lửa thì sao?

Họ nói rằng số bom ném tại Việt Nam gấp 3 lần số bom ném tại Âu châu trong suốt thời Ðệ nhị thế chiến, họ chỉ chú ý tới số tiền chi phí khổng lồ về số lượng bom đã ném xuống nhưng lại không để ý tới những nhân mạng, tài sản do những trái bom ấy gây nên. Một trong những nguyên nhân chính của sự thất bại tại Ðông Dương do ở cái nhìn thiển cận, ích kỷ của một số người chỉ biết quyền lợi trước mắt của họ, sống chết mặc bay.

Từ Thế Chiến Thứ Hai đến nay ai cũng biết chỉ có thân phận các nước nhược tiểu thật là hẩm hiu, không được tự quyết định số phận của mình. Họ chỉ làm món hàng cho các cường quốc mua qua bán lại. Sự thật không phải Mỹ can thiệp vào Ðông Dương từ những năm 1964, 65 mà thật ra từ tháng 10-1950 khi Trung Cộng chuyển vũ khí ồ ạt giúp Việt Minh, người Mỹ đã vội viện trợ quân sự cho Pháp 300 triệu đô la, Hàng Không Mẫu Hạm Mỹ đã chở tới Sài Gòn 40 máy bay Hellcat cho Pháp. Chính phủ và Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập từ đó và đã được người Mỹ trả lương. Cuộc chiến tranh VN đã được Quốc tế Hoá. Năm 1950 Viện trợ quân sự của Mỹ cho Pháp mới chỉ là 17% nhưng bốn năm sau tăng lên tới 74%. 

Năm 1949 Mỹ đã tàn nhẫn bỏ rơi Quốc Dân Ðảng Trung Hoa, Mao thừa cơ nuốt trọn nước Tầu và thành lập Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hoà Quốc khiến cho cán cân lực lượng trên thế giới lệch hẳn đi. Ngay khi vừa chiếm xong toàn cõi lục địa, Mao vội giúp đỡ và xúi dục Bắc Triều Tiên xâm lăng miền Nam năm 1950 khiến cho Mỹ phải hốt hoảng lấy danh nghĩa Liên Hiệp Quốc để nhẩy vào ngăn chặn và đã phải dùng biển lửa để chống lại chiến thuật biển người của Lâm Bưu. Mỹ bắt đầu ghê sợ Trung Cộng từ đấy, một khối 500 triệu người hung hãn, đói khát, hiếu chiến…. lại căm thù Hoa Kỳ và Tây phương ra mặt.

Chiếm được toàn cõi Trung Hoa, Mao thừa nhận Hồ, rồi Hồ thừa nhận Mao và được viện trợ vũ khí đạn dược ồ ạt từ đất Tầu chuyển sang, ấy cũng là lúc Hoa Kỳ thấy nguy cơ Cộng Sản đang lan tràn xuống Ðông Nam Á theo kiểu tầm ăn dâu và cương quyết ngăn chận đến cùng. Thuyết Dominoes thành hình từ đó.

Năm 1954 Pháp thất trận tại Ðiện Biên Phủ phải ký hiệp Ðịnh Genève chia đôi đất nước Việt Nam. Năm 1955 Mỹ hất cẳng Pháp ra khỏi miền Nam để biến nơi đây thành tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự do. Mỹ viện trợ quân sự cho miền Nam, huấn luyện cho binh lính miền Nam kỹ thuật tác chiến để ngăn ngừa hiểm hoạ Cộng sản từ phương Bắc tràn xuống. Ðầu thập niên 60 Trung Cộng cho nổ trái bom nguyên tử đầu tiên, lật đổ được Kruschev khiến cho vai trò của Trung Cộng ngày càng quan trọng, nó đã làm thành cái thế chân vạc trên thế giới hồi ấy. Một thời gian ngắn sau, với đà tiến bộ khá nhanh, Trung Cộng chế tạo được bom kinh khí, rồi chế được hoả tiễn khi ấy Hoa Kỳ lại càng hoảng sợ, họ nghĩ rằng Trung Công còn nguy hiểm và đáng sợ hơn Nga Sô vì nó là một khối người đông như kiến, đói rách, tàn ác, hiếu chiến. . chỉ tính chuyện xua quân đi ăn cướp mà tâm lý anh nhà giầu lại hay sợ kẻ cướp.

Mặc dù Trung Cộng ngày càng chống đối Nga Sô nhưng vẫn coi Mỹ là kẻ thù số một và thề quyết tâm đánh Mỹ. Năm 1965 Trung Cộng giật dây đảo chánh bất thành tại Nam Dương khiến cho Hoa Kỳ lại càng lo sợ hơn. Anh khổng lồ nay đã trở thành cơn ác mộng. Mỹ tăng viện trợ quân sự cho miền Nam từ 1964 trở đi, năm 1965 chính thức đổ quân vào Miền Nam khoảng 180 ngàn người cho tới năm 1968 lên tới 536 ngàn người đó là đỉnh cao nhất. Các cuộc biểu tình chống chiến tranh lúc ấy đã lan rộng trên đất Mỹ khi số lính Mỹ tử thương tại Việt Nam lên tới 31 ngàn người. Tháng 3-1968 Tổng Thống Johnson hăm dọa Bắc Việt để họ phải vào bàn Hội nghị, ông cho ngưng oanh tạc một phần lớn lãnh thổ miền Bắc và kêu gọi CSBV đàm phán nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh, Hà Nội phải chấp nhận ngồi họp.

Từ 1965 đến 1968 cuộc chiến tranh cù cưa không dứt khoát, người ta đồn tư bản Mỹ buộc chính phủ của họ kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, nhưng cũng có thể họ trì hoãn để mặc cả đi đêm với khối Cộng nhất là Trung Quốc. Cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân đã khiến cho Cộng sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng bị thiệt hại nặng về quân sự, tổng cộng có tới 58 ngàn cán binh bị giết, hơn 9 ngàn bị bắt làm tù binh, vào khoảng 80% quân số tham chiến. Nhưng cuộc Tổng công kích đã đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ lên cao hơn trước gấp bội phần. Trước tết, cuối năm 1967 Tướng Wesmoreland tuyên bố tình hình VN đã yên, Mỹ có thể rút quân vào năm tới nhưng Cuộc Tổng công kích cho thấy cs còn đủ sức tấn công vào các thành phố lớn khiến người dân Mỹ càng bi quan, họ cho rằng không thể thắng được cuộc chiến tranh dai dẳng này.

Bộ máy tuyên truyền Nga sô đã đổ dầu vào lửa cho phong trào chống chiến tranh tại Mỹ cũng như trên thế giới lên cao hơn. Ðầu năm 1968 Tướng Wesmoreland đề nghị tăng thêm 200 ngàn quân để đánh qua Miên Lào và đánh qua Vĩ tuyến 17, mục đích các cuộc tấn công này là để phá hủy hậu cần CS, kế hoạch rất hợp lý về quân sự nhưng đã không được Bộ Trưởng Quốc Phòng 
Mc Namara chấp thuận. Tháng 4-1969 Tướng Wesmoreland công bố bản phúc trình về Việt Nam cho biết nếu Mỹ không đổ quân vào miền Nam 1965 thì đã mất trong 6 tháng, ông chỉ trích chính sách hạn chế chiến tranh của Johnson không cho đánh qua Mên, Lào nên đã bỏ lỡ cơ hội chiến thắng. Nhiều người cho rằng chính sách của người Mỹ không muốn thắng, chỉ muốn cù cưa kéo dài chiến tranh. Jhonson không tái tranh cử nhiệm kỳ hai để tìm cách rút chân ra khỏi VN.

Nixon nhậm chức Tổng Thống đầu 1969 tuyên bố sẽ rút quân trong vòng mấy năm, thực hiện Việt Nam Hoá chiến tranh, hòa bình trong danh dự. Cuộc Tổng công kích Mậu Thân là khởi điểm của một khúc quanh bi thảm trong cuộc chiến tranh VN. Các chính khách Hoa Kỳ nay cho rằng thuyết Dominoes không còn giá trị, Nga Tầu chia rẽ, hiểm hoạ xăm lăng của CS không còn, họ đang tính chuyện đi đêm với Trung Cộng. Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1970 Quân đội VNCH được Mỹ giúp đỡ và khuyến khích hành quân sang Mên đánh Cộng Sản đã thành công vẻ vang, nhưng đầu năm sau Hành quân Lam Sơn 719 sang Hạ Lào không thành công, ta bị thiệt hại về nhân mạng và vũ khí.

Phong trào phản chiến tại Mỹ càng lên cao dữ dội vì chính phủ mới Nixon vẫn tiếp tục leo thang chiến tranh. Tháng 5 -1970 trong một cuộc biểu tình tại trường Đại học Kent, Ohio Quân đội đã bắn chết 4 sinh viên, làm bị thương 10 người khác khiến cho phong trào chống chiến tranh lên cao gấp bội lần những năm trước. Trong những năm 1965, 66, 67.. mặc dù số cán binh CS bị tử thương lên tới mấy trăm nghìn người nhưng người Mỹ không thấy dấu hiệu gì BV bi quan, trái lại họ vẫn tiếp tục đưa quân vào Nam qua đường mòn Hồ chí Minh. Nhiều người Mỹ bi quan cho rằng BV sẵn sàng hy sinh thêm một triệu người nữa và con số lính Mỹ chết tại VN sẽ tăng lên hằng trăm nghìn người hoặc cao hơn nữa.

Nixon bắt đầu cho rút quân từ giữa 1969 cho tới cuối năm họ rút 61 ngàn, năm 1970 rút 141 ngàn, năm 1971 rút 178 ngàn, năm 1972 rút 132 ngàn, đến 1972 chỉ con 24 ngàn người. Chính phủ Mỹ đồng thời thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, nâng tổng số quân đội miền Nam từ 640 ngàn năm 1967 và 820 ngàn 1968 lên tới 970 ngàn năm 1969. Hoa kỳ rút quân thực hiện Việt Nam Hoá chiến tranh là đã nghĩ tới chuyện bỏ Việt Nam, họ chỉ chờ cơ hội bắt tay được với Trung Quốc là thực hiện kế hoạch “vắt chanh bỏ vỏ” nhưng người dân miền Nam ngây thơ thật thà không ai ngờ tới. Trong khi giúp miền Nam đánh Cộng Sản họ đã ngấm ngầm tìm cách thương lượng với Trung Hoa đỏ. Năm 1970 họ bí mật đi đêm với Trung Cộng, ngày 9-7-1971 Kissinger đã bí mật gặp Chu Ân Lai tại Bắc kinh .

Năm 1969 chúng tôi có được nghe một người hồi chánh viên nói “ Mỹ muốn chiêu hồi Trung Quốc chứ Bắc Việt thì nghĩa lý gì”. Tướng Tôn Thất Ðính trong hồi ký có ghi lại lời ông Ngô đình Nhu cho rằng Mỹ muốn vào VN chỉ để đi tới thoả thuận với Bắc Kinh, Tướng Ðính cho rằng nhận định của ông Nhu đã thành sự thật, khi Nixon bắt tay Mao Trạch Ðông thì tiền đồn chống Cộng của VNCH hết ý nghĩa, Hoa Kỳ phải thu xếp chấm dứt cuộc chiến tranh không cần thiết. Ngày 21-2-1972 tại Bắc kinh Tổng thống Ðế quốc bắt tay Mao Trạch Ðông. Họ mua bán với nhau trên xương máu của quân dân hai miền Nam Bắc, Nixon tươi cười mãn nguyện, cơn ác mộng Trung quốc không còn ám ảnh Hoa kỳ.

Hồi ấy người dân miền Nam ai nấy vui mừng hớn hở tưởng như “hoà bình sắp tới nơi rồi” nhưng thực ra “sắp chết tới nơi” mà không ai hay biết, ngay cả Nguyễn Văn Thiệu, tháng 4 năm 1974 ông đã cho phe thân chính phủ sửa Hiến Pháp để ra ứng cử Tổng Thống thêm một lần nửa!

Cuối tháng 3/1972 Bắc Việt đưa 5 Sư đoàn với 200 xe tăng, 3 trung đoàn pháo ồ ạt tấn công vùng giới tuyến chia làm hai mũi: 3 Sư đoàn vượt sông Bến Hải đánh vào Quảng Trị, 2 Sư đoàn từ phía Tây tiến về Huế. Mấy ngày sau ba Sư đoàn CS 5, 7, 9 cùng 200 chiến xa tiến đánh Bình Long, ngoài ra Sư đoàn 320 tiến đánh Kontum và Sư đoàn 3 đánh Bình Ðịnh. Tổng cộng 10 sư đoàn Bắc Việt đánh lớn trong mùa Hè Đỏ Lửa 1972 để thêm sức mạnh tại bàn hội nghị, toàn bộ lực lượng vào khoảng 130 ngàn người, trong khi trận đánh diễn tiến họ có bổ sung thêm khoảng 50 ngàn người. Tại Quân Khu 3 các cuộc tấn công vào thị xã An lộc của Bắc Việt từ 11-5 cho tới cuối tháng 5 bị đẩy lui, hằng trăm xe tăng bị bắn cháy, đến ngày 18-6 An Lộc coi như hoàn toàn được giải toả.

Tại Kontum 2 Sư đoàn CS (SÐ320 và SÐ2) tham gia chiến dịch từ đầu tháng 4, ngày 23-4 BV tấn công dữ dội, Tân cảnh và Dakto bị tràn ngập. Ngày 10-5 Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn lên thay Trung Tướng Ngô Dzu giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn 2, Chiến dịch của CS được chia làm 2 giai đoạn giai đoạn 1 từ 14 tới 17-5 Cộng quân tấn công dữ dội, Pháo Binh của ta không đủ sức ngăn chận, phòng tuyến có nguy cơ sụp đổ, nhờ sự yểm trợ của B-52 đã cứu vãn được tình thế. Các đợt tấn công kế tiếp từ 18-5 tới cuối tháng của CS thất bại, ngày 30-5 VNCH đã chiếm lại được toàn thành phố, Kontum coi như thoát hiểm.

Tại vùng giới tuyến ngày 3-5 Tướng Ngô quang Trưởng thay thế Tướng Hoàng Xuân Lãm và bắt phản công tái chiếm Quảng Trị từ 28-6. BV đưa vào mặt trận 6 Sư đoàn nhưng đã làm mồi cho B-52, Pháo Binh và máy bay Chiến Thuật VNCH. Tới tháng 9 chưa có kết quả cụ thể nào. Ngày 9-9 TQLC khởi sự tấn công vào cổ thành, cho tới 16-9 TQLC đã cắm cờ trên Cổ Thành, cuộc chiến đẫm máu coi như chấm dứt. Trận chiến mùa Hè Cộng quân thiệt hại khoảng 70 ngàn người, ước lượng từ 500 cho tới 700 xe tăng bị bắn cháy, phía VNCH có khoảng 30 ngàn người thiệt mạng. Cho đến cuối 1972 có hơn một triệu cán binh Cộng Sản bị tử thương trong khi Bắc Việt vẫn ngoan cố theo đuổi chính sách “cố đấm ăn xôi” đẩy thanh niên vào chỗ chết để thúc đẩy phong trào phản chiến.

Người Mỹ cho rằng chiến thắng trong trận Mùa Hè Đỏ Lửa một phần do sự yểm trợ hùng hậu của Không Lực Mỹ, chính ông Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng cũng đã xác nhận:
“Cuộc công kích của địch quân năm 1972 đã cho thấy nhược điểm của tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh. Nếu không được yểm trợ của Mỹ về Không Lực và di động tính, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà khó có thể giữ được An Lộc, bảo vệ được Kontum và chiếm lại đượïc Quảng Trị . Các phần đất này sẽ bị mất vĩnh viễn bởi vì chúng tôi không có đủ khả năng chiếm lại. Tuy nhiên, lúc nào còn Không Lực Mỹ thì cán cân lực lượng vẫn có thể duy trì và Việt Nam Cộng Hoà vẫn còn một cơ hội tốt để sống còn”

Như thế năm 1972 lực lượng Việt Nam Cộng Hoà không được cân bằng so với Bắc Việt, nó chỉ cân bằng khi có sự yểm trợ của Không Quân Mỹ, tại miền Nam riêng tháng 5- 1972 có hơn 18 ngàn phi vụ do 700 phi cơ chiến đấu và do 160 pháo đài bay B-52 thực hiện cùng với yểm trợ Hải Pháo của khoảng 41 chiến hạm ngoài khơi Thái Bình Dương . Họ yểm trợ hết mình cho VNCH, ngoài Không Yểm của B-52 còn có yểm trợ về vận tải của máy bay khổng lồ C130. Họ muốn miền Nam phải thắng để lấy thế mạnh trên bàn Hội Nghị và ký Hiệp Ðịnh Paris rút quân về nước, lấy về 587 tù binh. Nhà chuyên viên du kích chiến Sir R. Thompson cho biết miền Bắc phải ngồi vào bàn Hội nghị không phải để cứu họ mà là để cứu nước Mỹ khỏi cấu xé nhau tan nát.

Năm 1968 và 1972 chính phủ Việt Nam đã đề nghị chính phủ Mỹ cho thành lập thêm 2 Sư đoàn Tổng Trừ Bị để đối phó với lực lượng địch đã có ưu thế về Xe tăng, Pháo Binh, nhưng người Mỹ từ chối lấy lý do tốn kém. Kỳ thực họ không muốn cho quân đội miền Nam mạnh quá vì sợ có thể liều lĩnh đánh ra Bắc hoặc ương bướng khó bảo, họ luôn luôn nắm đằng chuôi. Như thế ta có thể kết luận về Chủ lực Quân, miền Nam không bằng miền Bắc cũng như năm 1953 Chủ lực Quân Việt Minh vẫn mạnh hơn Pháp.

Sau ngày ký hiệp định Paris, năm 1973 tình hình tiếp vận của miền Nam bắt đầu thiếu hụt, một số lớn xăng dầu đạn dược đã được dốc vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, quân viện bị cắt giảm dần dần từ 2 tỉ 1 năm 1973 còn 1 tỉ 4 năm 1974 và 700 triệu năm 1975.

Theo tiết lộ sau này của Ông Cao văn Viên, Bộ TTM VNCH, hậu quả của giảm quân viện là Không Quân đã phải cho hơn 200 phi cơ ngưng bay, giảm số giờ bay yểm trợ huấn luyện 50%, phi vụ trực thăng giảm 70%. Các hoạt động Hải Quân cũng cắt giảm 50%, 600 giang thuyền các loại nằm ụ. Theo sử gia Bill Laurie từ giữa năm 1974, Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ bắt đầu từ từ xiết cổ VNCH, so với năm 1972 , năm 1975 hoả lực súng lớn (đại bác 105 ly, 155 ly..) giảm tới hơn 90%. Theo BTTM hỏa lực giảm 60%, năm 1972 mỗi tháng quân đội VNCH xử dụng khoảng trên 65 ngàn tấn đạn nhưng tới 1974 chỉ xử dụng hạn chế 19 ngàn tấn một tháng, đạn dược chỉ đủ xài cho đến tháng 5-1975.

Chúng ta thấy rất rõ ý đồ của người Mỹ trước và sau khi ký Hiệp Ðịnh Paris, năm 1972 họ yểm trợ cho VNCH hết mình để lấy thế mạnh trên bàn Hội Nghị rút quân về nước, tiếp theo đó là giai đoạn “vắt chanh bỏ vỏ”, cắt giảm quân viện khi VN không còn là tiền đồn chống Cộng của Ðông Nam Á vì họ đã bắt tay và thoả thuận được với Trung Hoa đỏ. Họ chỉ hứa xuông sẽ yểm trợ miền Nam nếu bị CS vi phạm Hiệp định, tấn công.

Năm 1973 có thể chia làm hai giai đoạn: Thứ Nhất từ 28-1-73 cho tới tháng 10-1973. Thứ Hai từ sau tháng 10-1973. Chỉ thị tháng 2-1973 của Trung Ương Cục miền Nam chủ trương thúc đẩy hoạt động chính trị nhưng đến tháng 6-1973 khi Quốc Hội Mỹ biểu quyết cắt các ngân khoản cho các hoạt động quân sự của chính phủ tại Ðông Dương, tháng 10 Quốc Hội ra Ðạo Luật Quyền hạn chiến tranh (War Powers Act) giới hạn quyền Tổng Thống Mỹ thì tình hình lại thay đổi. Tại Hà Nội, Ðại hội 21 của Bộ chính trị Trung ương đảng họp vào tháng 10 năm 1973 quyết đấu tranh bằng vũ lực sau khi được biết Quốc Hội Mỹ cắt giảm quân viện, trói tay hành pháp. Trung Cộng và Nga Sô thừa cơ viện trợ ồ ạt súng đạn cho Bắc Việt tiến đánh miền Nam, nhưng thực ra họ đã thoả thuận với nhau cả rồi.

******

2. So sánh với tình hình năm 1972 chúng ta sẽ thấy:

Trong trận Mùa Hè Đỏ Lửa, Bắc Việt đã đưa vào trận đánh tổng cộng 10 sư đoàn, ta có đầy đủ tiếp liệu, đạn dược, săng dầu để chiến đấu lại được Không Quân Mỹ giúp đỡ về vận chuyển và oanh tạc. Sang năm 1975 VNCH không được B52 yểm trợ. Toàn bộ lực lượng chủ lực BV gồm 15 Sư đoàn BB (thuộc 4 Quân đoàn 1, 2, 3, 4 và đoàn 232) cộng thêm 2 Sư đoàn đặc công và trên 10 Trung đoàn độc lập, tương đương trên dưới 20 Sư đoàn BB. Ðầu năm 1975 vào khoảng 80% Chủ lực quân BV đã có mặt tại miền Nam vào khoảng 17 Sư đoàn, 3 Sư đoàn tổng trừ bị thuộc Quân đoàn 1 còn đóng ở phía trên Bến Hải, khi ta mất vùng 1 và 2 , BV đưa nốt 3 Sư đoàn vào Nam nâng tổng số lên 20 sư đoàn. Vũ khí đạn dược năm 1975 BV đưa vào Nam gấp 3 lần 1972 theo tiết lộ của báo Nhân Dân năm 1976 nhân ngày kỷ niệm chiến thắng 30-4. 

Chúng ta hãy lập bảng so sánh như sau:

Năm 1972
- Bắc Việt đưa vào trận địa 10 sư đoàn
- Miền Nam có đầy đủ tiếp liệu đạn dược.
- Có yểm trợ của Không Lực Mỹ. 

Năm 1975
- Lực lượng Bắc Việt tại miền Nam lên tới 20 sư đoàn, gấp đôi năm 1972.
- Vũ khí đạn dược của Bắc Việt gấp 3 lần năm 1972, đưa vào Nam tự do không bị đánh phá.
- Miền Nam thiếu thốn đạn dược, nhiên liệu. Không được phi cơ Mỹ yểm trợ oanh tạc và vận chuyển.

Nhìn sơ ta cũng đủ thấy tình hình miền Nam lúc ấy bi đát như thế nào rồi, vào thời điểm này miền Nam chỉ còn trông cậy vào yểm trợ của máy bay chiến lược B-52 để cứu vãn tình thế . Năm 1973, đạn dược tiếp liệu của miền Nam tương đối dồi dào hơn năm 1974, BV chưa phục hồi sau trận Mùa Hè Đỏ Lửa. Tại mặt trận Quảng Ðức khoảng cuối 1973, các Trung đoàn csBV giao tranh với quân đội VNCH tại Bù Prăng, Kiến Ðức để bảo vệ xa lộ Ðông Trường Sơn đã bị thiệt hại nặng nề, Quân đội miền Nam đã bắn khoảng 100 ngàn quả đại bác 155 ly đẩy lui địch. Từ tháng 8 tới cuối năm 1974 tại mặt trận Thượng Ðức, Quảng Nam hai Lữ đoàn Nhẩy Dù và các Trung đoàn csBV giao tranh dữ dội, dằng co nhau ngọn đồi 1062. Trận đánh cho thấy hoả lực cs được gia tăng hơn trước trong khi đó quân đội miền Nam phải giới hạn xử dụng đạn được. Trong năm 1974 hầu hết các cứ điểm VNCH không chịu nổi pháo kích ồ ạt của địch như Tống Lê Chân, 24-3-1974, Dakrek, Kontum ngày 16-5-1974 (7 ngàn quả), Nông Sơn Quảng Nam 18-7 (5 ngàn quả), Tiêu Atar, Bắc Ban Mê Thuột 30-5 (trên 1 ngàn quả)…

Trong khi BV có khá đầy đủ tin tức tình báo về miền Nam, ta lại thiếu tin tức chính xác về họ. Frank Snepp trong cuốn Decent Interval cho biết một điệp viên cao cấp tại dinh Ðộc Lập đã cung cấp cho CSBV những tin tức quan trọng về kế hoạch quân sự của VNCH qua phiên họp cao cấp quân sự tại dinh Ðộc lập ngày 9 và 10-12 1974. Trong phiên họp này TT Thiệu cho biết CS sẽ tấn công Tây Ninh, ông sẽ không tăng viện cho QK-2.

Văn Tiến Dũng (trong Ðại thắng mùa Xuân) cũng xác nhận giống như vậy, vào ngày 9 và 10 tháng 12-1974 vài ngày trước khi Bắc Việt đánh Phước Long, trong một phiên họp các Tư Lệnh Quân Khu tại dinh Ðộc Lập, ông Thiệu cho rằng năm 1975 Bắc Việt có thể đánh lớn hơn năm 1974 nhưng không như năm 1968 và không bằng 1972, chưa có khả năng đánh vào các thị xã lớn mà chỉ đủ đánh các tỉnh nhỏ như Phước Long, Gia Nghĩa, rằng Bắc Việt sẽ đánh Quân Khu 3 chủ yếu là Tây Ninh. Nhờ tin tức gián điệp BV càng quyết tâm hơn trong việc đánh chiếm QK-2 vì nơi đây không được tăng cường.

Lực lượng địch như đã nói ở trên tổng cộng là 20 Sư đoàn, với số xe tăng thiết giáp ước lượng không chính xác khoảng từ 500 tới 600 chiếc và 600 khẩu pháo. Một nhà báo Tây Phương nói hai bên xem như ngang nhau vào lúc đầu của tấn thảm kịch. Năm 1975 VNCH có trên một triệu quân. Thực ra lính nhà nghề chỉ có 13 Sư đoàn và 15 Liên đoàn BÐQ tương đương với hai Sư đoàn (mỗi Liên đoàn khoảng trên 1,000 người), toàn bộ lực lượng vào khoảng 15 Sư đoàn. Quân đội VNCH tổ chức theo lối Mỹ, một người tác chiến có 5 người yểm trợ, Chủ lực Quân có khoảng hơn 400 ngàn trong đó thành phần tác chiến chỉ vào khoảng từ 160 tới 180 ngàn người, còn lại là các đơn vị yểm trợ.

Về mặt số lượng xe tăng và đại bác của VNCH khoảng gấp 3 lần csBV tại miền Nam nhưng về mặt phẩm Thiết giáp miền Nam gồm M48, M41, M113, trong đó chỉ có M48 là tương đương với T54 của Bắc Việt. Ðại bác 130 ly của BV có tầm viễn xạ tối đa là 30 cây số trong khi pháo 105 ly, 155 ly của miền Nam chỉ được 11 và 15 cây số, sau này được viện trợ thêm 175 ly có tầm bắn xa 25 cây số. Quân đội VNCH tuy đông nhưng phải trải quân giữ đất nên thiếu lực lượng di động và quân Tổng Trừ Bị. Cộng quân có ưu thế lựa chọn chiến trường nên họ có thể tập trung quân đông đảo như tại QK-1, QK-2 năm 1975 về bộ binh, tại trận địa, quân số csBV nhiều gấp 5 lần VNCH, về đại bác gấp đôi, về xe tăng ngang nhau. Lực lượng hai bên không cân bằng vì miền Nam lâm vào tình trạng hết đạn.

Quân khu 2 gồm 12 tỉnh mà chỉ có 2 Sư đoàn BB và 7 Liên đoàn BÐQ trấn giữ, lực lượng bị phân tán mỏng lại là nơi địch chủ trương tấn công toàn diện, Bắc Việt tung vào trận địa này 5 Sư đoàn (gồm 5 Sư đoàn và 4 Trung đoàn độc lập) tổng cộng gần 80 ngàn người. Bắc Việt bất ngờ đưa ba Sư đoàn tấn công Ban mê thuột ngày 10-3, thành phố gần như bỏ ngỏ vì chỉ được phòng thủ rất sơ sài, hôm sau hầu như toàn thị xã lọt vào tay BV. Thiếu Tướng Phạm Văn Phú Tư Lệnh QK-2 mắc lừa kế nghi binh của Văn Tiến Dũng tưởng là BV tấn công Pleiku ông đã phòng thủ rất kỹ đại bản doanh này nên đã để mất Ban Mê Thuột.

Hai hôm sau 12-3-1975 Quốc hội Mỹ cắt 300 triệu đô la quân viện bổ túc cho VNCH mà TT Ford đã đệ trình trước đây và quân viện cho năm tới sẽ không được chuẩn chi như thế ta chỉ còn đạn đủ đánh trong vòng vài tháng. Từ ngày 11-3 tại dinh Ðộc Lập TT Nguyễn văn Thiệu triệu tập phiên họp An Ninh QG với Ðại Tướng Cao Văn Viên, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Ðặng Văn Quang cho biết phải rút Quân bỏ QK-1 và 2 để về bảo vệ QK-3 và 4 vì lãnh thổ quá rộng không đủ lực lượng bảo vệ. Kontum, Pleiku bị áp lực nặng, Tướng Phú bay về Cam ranh họp với các Tướng Thiệu, Khiêm, Viên, Quang để bàn kế hoạch rút lui Pleiku theo đường số 7 B về Tuy Hoà.

Cuộc triệt thoái bắt đầu từ 16-3 đến 19-3, ngày đầu nhờ yếu tố bất ngờ nên đoàn lữ hành ra đi êm xuôi, hôm sau dân chúng ùa theo, ngày 18-3 đoàn di tản tới Phú Bổn, chiến xa và đại bác dồn đống tại đây bị Cộng quân pháo kích hư hại gần hết . Cuộc triệt thoái không có kế hoạch đầy đủ, cấp trên nhiều người bỏ đơn vị chạy trước, kỷ luật hỗn tạp, kẻ xấu lợi dụng phá hoại, giết chóc. . Cuộc triệt thoái trên Đường số 7B đã đi vào vết xe đổ của cuộc lui binh tại Cao Bắc Lạng của Pháp năm 1950 được coi như một thảm bại lớn nhất trong cuộc chiến tranh tại miền Nam nước Việt từ trước đến nay.

Tướng Cao Văn Viên cho rằng ít nhất 75% các lực lượng chiến đấu của Quân đoàn 2 đã bị tiêu diệt, 60 ngàn chủ lực quân khi về đến Tuy hoà chỉ còn lại khoảng 20 ngàn, năm Liên đoàn BÐQ 7,000 người chỉ còn 900 người, 100 xe tăng các loại chỉ còn 13 cái M-113, trong số 200 ngàn dân Cao Nguyên chạy loạn chỉ có khoảng 45 ngàn người tới được Tuy Hoà. Tổng số vũ khí đạn dược trị giá 253 triệu đô la lọt vào tay Cộng quân. Ít ra cũng có tới hằng chục ngàn người thiệt mạng, cuộc triệt thoái mang lại hậu quả hết sức tai hại, nó đã kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ VNCH.

Miền Nam đang ở trong tình trạng ngặt nghèo vì thiếu đạn, săng dầu. . Ông Thiệu lại đưa ra những quyết định sai lầm vô cùng tai hại khiến cho đất nước trong chớp mắt đã kề bên bờ vực thẳm. Ngày 13-3 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh QK-1 về dinh Ðộc Lập họp Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, TT Thịêu yêu cầu Tướng Trưởng đưa trả Sư đoàn Dù về QK-3 thực hiện tái phối trí lực lượng. 

Ngày 14-3 Tướng Trưởng trở ra Ðà Nẵng họp tham mưu thảo luận kế hoạch tái phối trí, Liên đoàn 14 BÐQ thay thế TQLC tại Quảng Trị để TQLC thay Lữ đoàn Dù. 

Ngày 17-3 TQLC rời Quảng Trị về Ðà Nẵng khiến dân chúng sợ hãi di tản ồ ạt trên Quốc Lộ 1.

Ngày 19-4 Tướng Trưởng về Sài Gòn trình bầy kế hoạch lui binh từ Huế, Chu Lai về Ðà nẵng theo đường bộ, trong trường hợp đường bộ bị cắt thì các lực lượng của Quân đoàn sẽ tập trung tại Huế, Ðà Nẵng, Chu Lai, tầu Hải Quân sẽ chở lính từ Huế, Chu Lai về Ðà Nẵng, thành phố này vẫn là điểm tựa cuối cùng. Ngày 19-3 Quảng Trị bỏ ngỏ, Cộng quân bắt đầu tấn công mạnh tại Bắc và Nam Quân Khu.

Nhìn trên bản đồ quân sự ta thấy VNCH chỉ còn kiểm soát được khoảng 1/3 diện tích QK-1 kể từ ngày 19-3-1975 Quảng Trị coi như bỏ ngỏ đã lọt vào tay Bắc Việt. Hôm 20-3 Tổng Thống hiệu triệu trên đài phát thanh Huế ban hành lệnh tử thủ. Ngày hôm sau Tướng Trưởng nhận được lệnh bỏ Huế rút về Ðà Nẵng, ngày 24-3 Cộng quân tấn công dữ dội, ngày 25-3 Quảng Tín và Quảng Ngãi thất thủ.

Ngày 25-3 các đơn vị của Quân đoàn đã tụ tập tại 3 phòng tuyến chính Nam Chu Lai, Ðà Nẵng, Bắc Huế, các lực lượng Quân đoàn thiệt hại nặng trên đường di tản về các phòng tuyến này. Tướng Trưởng cho Sư đoàn 1 và các lực lượng quanh Huế rút về Ðà Nẵng, ông cũng lệnh cho Sư đoàn 2, chi khu Quảng Ngãi và thân nhân của họ rút ra Cù Lao Ré ngoài khơi Chu Lai, khoảng một nửa quân số của Sư đoàn 2 đã lên tầu. Ngày 26-3 tại cửa Tư Hiền và Thuận An các đơn vị TQLC, BÐQ, ÐPQ… cùng với hàng trăm khẩu pháo.. hỗn loạn diễn ra, người ta bắn nhau để giành chỗ trên tầu, CSBV pháo kích vào địa điểm tập trung quân gây thiệt hại nặng nề.




Ngày 27-3 cuộc phòng thủ Ðà Nẵng trở nên vô hiệu trước sự hỗn loạn, thành phố nay đông nghẹt những người tỵ nạn đã trở nên hỗn loạn không thể nào kiểm soát nổi. Cuộc di tản tại QK-1 đã diễn ra một cách hỗn loạn được coi như tồi tệ hơn tại QK-2, các nhân chứng sau này kể lại nhiều người cấp lớn bỏ lính để chạy tháo thân. Ngày 28-3 Ðà Nẵng bắt đầu nghiêm trọng, Cộng quân pháo vào thành phố dữ dội gây nhiều thiệt hại về nhân mạng, Tướng Trưởng gọi về BTTM xin di tản, ông Thiệu không ra lệnh rõ ràng. Ngày 29-3 Tướng Trưởng ra lệnh bỏ Ðà Nẵng. Tại QK-2 ngày 27-3 Lâm Ðồng di tản, ngày 1-4 Qui Nhơn thất thủ sau một tuần giao tranh dữ dội, Sư đoàn 22 BB chiến đấu rất anh dũng nhưng không thể chống lại lực lượng quá đông đảo của Cộng quân. Ngày 16-4 mất Phan Rang, hai hôm sau Phan Thiết chịu chung số phận, toàn bộ hai QK-1 và 2 lọt vào tay csBV.




Kế hoạch tái phối trí của ông Thiệu rút bỏ hai Quân Khu 1 và 2 chẳng khác nào dọn cỗ sẵn cho csBV xơi, họ chiếm được 16 tỉnh, một nửa VNCH trong vòng có hơn một tháng. Tất cả vũ khí đạn dược, quân trang, xe tăng đại bác . . tại hai vùng hầu như mất hết, một phần lớn đã lọt vào tay Cộng quân, đúng là giáo vào tay giặc. Năm 1976, Cộng sản tiết lộ trên báo chí họ đã lấy được rất nhiều chiến lợi phẩm tại Vùng 1 và 2 nào xe cộ, đại bác, thiết giáp. . để trang bị thêm, đạo quân của cs bỗng nhiên tăng lên gấp bội. Cuộc rút lui hỗn loạn tại hai Quân khu dưới những trận mưa pháo của địch khiến hằng vạn người bị chết oan.

Tại Xuân Lộc Long Khánh QÐVNCH chống trả dữ dội cuộc tấn công của BV gây thiệt hại nặng nề cho địch. Ngày 18-4-1975 Quốc Hội Mỹ bác bỏ đề nghị viện trợ khẩn cấp cho VNCH của TT Ford, đối với người Mỹ chiến tranh VN cũng như Ðông Dương đã được giải quyết xong, nói trắng ra họ bỏ Ðông Dương giao lại cho cs. Tại Sài Gòn các ông to bà lớn đã chuẩn bị kế hoạch “tẩu vi thượng sách” y như năm 1949 tại Nam Kinh bên Trung Hoa các ông Bộ trưởng, Tỉnh trưởng đã lên máy bay ra đảo Ðài Loan.

Ngày 21-4 ông Thiệu từ chức, tuyên bố Hoa kỳ bỏ rơi Đồng Minh, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay, ba ngày sau hai ông Thiệu và Khiêm rời Sàigòn sang Ðài Loan. Ngày 28-4 ông Trần văn Hương bàn giao cho ông Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống. Sau khi chiếm được hai Quân Khu 1 và 2, BV hối hả đưa đại binh vào chiếm Sài Gòn trước Mùa Mưa, tổng cộng họ đã dưa vào gần 20 Sư đoàn, khoảng 400 xe tăng và 400 đại bác.

Phía VNCH chỉ có 3 Sư đoàn 25, 5, 18 và các lực lượng di tản từ miền Trung tổng cộng độ 6 Sư đoàn. BTTM đã lấy hết súng đạn, tái trang bị cho các đơn vị di tản, hoả lực yếu kém, năm phòng tuyến bảo vệ Thủ đô của VNCH là tuyến Củ Chi , Bình Dương, Biên Hoà, Vũng Tầu, Long An… bị sụp đổ trước các cuộc tấn công của BV từ ngày 26-4 cho tới sáng 30-4. Mặc dù các đơn vị cảm tử của VNCH như Biệt Cách Dù vẫn còn chiến đấu anh dũng tại Ngã Tư Bẩy Hiền nhưng ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trưa ngày 30-4 để tránh đổ máu vô ích.

Từ đó đến nay nhiều người Việt đổ lỗi cho Mỹ đã bỏ rơi Đồng Minh năm 1975. Người Mỹ, điển hình là đương kim Tổng Thống Bush và Bộ Trưởng Quốc Phòng lại chỉ trích quân đội VNCH trước đây đã không chịu đánh. Nhiều chính khách Hoa kỳ lại đổ lỗi cho miền Nam Việt Nam. Theo Nguyễn đức Phương, nhà nghiên cứu quân sự thì nguyên nhân thất bại đã đến từ cả hai phía Việt Nam và Mỹ.

Như chúng tôi đã trình bầy ở trên, Quốc Hội Mỹ cắt giảm viện trợ quân sự khiến cho Quân Đội miền Nam lâm vào tình trạng ngặt nghèo kiệt quệ, một ông Tướng Pháp nói đó là bức tử Việt nam. Những yếu tố đưa tới sự sụp đổ của miền Nam có thể bao gồm trong các nguyên nhân chính:

- Sự sai lầm của ông Thiệu trong việc rút bỏ hai Quân khu, tuy nhiên giả thử ông không cho rút lui và tăng cường tiếp viện cả hai Vùng và cầm cự được cho tới Mùa Mưa, CSBV phải tạm ngưng chiến chờ mùa khô nhưng khi ấy QÐVNCH lâm vào tình trạng hết đạn hoàn toàn và phải xin Quốc Hội Mỹ viện trợ khẩn cấp, thật khó mà ước đoán kết quả ra sao. Ông Thiệu không phải là nguyên do duy nhất đưa tới sụp đổ.

- Quốc Hội Mỹ là nguyên nhân chính trong việc cắt giảm quân viện cho VNCH đã bức tử miền Nam.

- Thuyết Dominoes có từ thời Tổng Thống Eishenhower nay đã lỗi thời không còn giá trị, người Mỹ đã bắt tay được Trung Cộng, Ðông Nam Á không còn bị cs đe doạ cho dù bỏ Đông Dương.

- Phong trào phản chiến tại Mỹ đã gây chia rẽ sâu xé nội bộ nước Mỹ khiến họ phải rút bỏ Ðông Dương một cách tàn nhẫn.

- Chế độ Nguyễn Văn Thiệu ngày càng suy bại vì tham nhũng khiến Hoa Kỳ chán nản mệt mỏi vì phải trợ giúp một chính quyền nhiều khuyết điểm và thối nát.

- Cuộc chiến tranh VN đã được quốc tế hoá từ 1950 cho tới 1975, miền Nam và Ðồng Minh phải đương đầu với một kẻ thù cố đấm ăn xôi, dai dẳng. Người Pháp đã quá ghê sợ cuộc chiến tranh Ðông Dương và phải rút bỏ từ 1954, Mỹ lại đi vào vết xe đổ của Pháp khi tham dự một cuộc chiến tranh không cân xứng giữa một anh nhà giầu sợ chết và một thằng nghèo đói đánh thí mạng cùi.

Ngoài ra những người chạy lọan từ miền Trung vào Nam, một số sĩ quan viết lại hồi ký, họ nói rằng cấp lớn nhiều người thiếu tư cách, bỏ lính tráng lại chạy tháo thân.

Thật vậy, nhiều ông Tỉnh Trưởng vét tiền trong ngân khố chạy trước, điều đáng tiếc là trong khi tinh thần binh sĩ còn cao, cấp lớn hèn nhát ích kỷ đã giúp cho sự sụp đổ của miền Nam nhanh hơn dự kiến. Trong khi ba quân tướng sĩ còn đang chiến đấu anh dũng bảo vệ Vùng 3, nhiều ông to bà lớn đã thu xếp quí kim chuồn ra ngoại quốc. Nguyễn Ðức Phương cho rằng người dân thờ ơ không chịu giúp đỡ chính phủ, nhưng theo chúng tôi nghĩ vì chế độ Thiệu đã quá thối nát, hẳn là ai cũng đều biết cả, nên người dân chán ngán không còn thiết tha gì đến, họ cũng chỉ lo chạy tháo thân mặc cho nó sụp đổ tan tành.

Sau 30-4-1975 người ta ước lượng Cộng quân đã chiếm được 1,100 phi cơ các loại, hằng ngàn tầu, thuyền các loại của Hải Quân, 300 xe tăng M41, 250 xe M48; 1,000 đại bác 105 ly, 300 đại bác 155 ly và 175 ly, 800 ngàn súng cá nhân M-16, 15 ngàn đại liên; 500 trực thăng; 130 ngàn tấn đạn dược. . tất cả trị giá hằng tỷ Mỹ kim.

Ngày 14 và 15-4-2006, Viện lịch sử Quân Sự Việt Nam tổ chức cuộc hội thảo tại Sài Gòn đã công bố cho biết trong giai đoạn 1973-1975 Nga, Trung Quốc và các nước XHCN đã viện trợ cho Hà Nội 724,512 tấn hàng hậu cần và vũ khí. Trong số đó viện trợ của Trung ctrợ của Trung quốc gấp gần 10 lần Nga, điều này cho phép ta khẳng định rằng họ đã thoả thuận với nhau cả rồi, sau khi Nixon bắt tay Mao, Trung cộng viện trợ ồ ạt cho Hà Nội, Mỹ cắt giảm viện trợ cho VHCH tới xương tủy để sau cùng miền Nam sụp đổ tan tành.

Hậu quả của tấn thảm kịch như ta thấy đã khiến cho hằng mấy vạn người chết oan, hằng trăm nghìn người bị tù đầy giam giữ lâu dài, vài năm sau có tới mấy trăm nghìn người bỏ xác giữa biển khơi trên đường tỵ nạn. Cuộc chiến tranh 1975 đã chấm dứt từ mấy chục năm qua nhưng nó vẫn in sâu trong tâm khảm người Việt nhất là đám tỵ nạn lưu vong. Bây giờ không phải lúc chúng ta ngồi oán trách đồng minh bỏ rơi miền Nam, ta phải tự trách mình đã không bảo được nhau, đã tự biến mình thành những quân tốt cho người ta xử dụng, đã để cho họ mua bán với nhau trên xương máu của hằng triệu binh lính cả hai miền Nam Bắc, đã biến đất nước thành bãi chiến trường và nơi thử vũ khí của Khoa Học Quốc Phòng.

Cộng sản Việt Nam đã gây lên cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn sẽ phải đời đời đắc tội trước non sông và lịch sử. Các siêu cường Nga, Mỹ, Trung Cộng cũng phải chịu trách nhiệm trước lịch sử loài người vì họ đã giúp vũ khí và xúi dục cho các dân tộc Ðông Dương giết hại lẫn nhau.

Trọng Đạt

Tài Liệu Tham Khảo

- Trần Trọng Kim: Một Cơn Gió Bụi
- Hoàng Văn Chí: Từ Thực Dân Ðến Cộng Sản. Chân Trời Mới, 1965.
- Cao Thế Dung: Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa, Alpha 1991.
- Ðoàn Thêm: Những Ngày Chưa Quên, Quyển Thượng (1939-1954), Quyển Hạ(1954-1963), Xuân Thu 2000.
- Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Nam Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, Texas 1990.
- Lâm Lễ Trinh: Về Nguồn, Thuỷ Hoa Trang, 2006.
- Phan Thứ Lang: Bảo Ðại, Vị Vua Triều Nguyễn Cuối Cùng, Nhà xuất bản Công An Nhân Dân, 1999.
- Vũ Ngự Chiêu: Phía Bên Kia Cuộc Cách Mạng 1945, Ðế Quốc Việt Nam 3-8-1945, Văn Hoá 1996
- Nguyễn Ðức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
- Nguyễn Ðức Phương: Những Trận Ðánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Ðại Nam, 2000.
- Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988.
- Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987.
- Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography, 2003
- Trần Ðông Phong: Việt Nam Cộng Hoà, 10 ngày cuối cùng , Nam Việt 2006
- Nguyễn Tiến Hưng: Khi Ðồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh xuất bản, 2005.
- Văn Tiến Dũng: Ðại Thắng Mùa Xuân, nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 2005.
- Ðinh Văn Thiên: Một Số Trận Ðánh Trước Cửa Ngõ Sài Gòn, nhà xuất bản Quân Ðôïi Nhân Dân, Hà Nội 2005.
- Dương Ðình Lập, Trần Minh Cao: Cuộc Tổng Tiến Công và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975, nhà xuất bản tổng hợp TPHCM 2005.
- Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1991.
- Ðoàn Thêm: 1965 Việc Từng Ngày, Xuân Thu 1989.
- Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South Vietnam, Sphinx publishing 1986.
- The World Almanac Of The VietNam War: John S.Bowman, General editor, A Bison book.
- Stanley Karnov: Vietnam - A History, Penguin books 1991.
- Marilyn B Young, John J. Fitzgerald, A.Tom Grunfeld: The Vietnam War, A History In Documents, Oxford University press 2002.
- Lâm Lễ Trinh: Tổng Thống Hai Ngày Dương Văn Minh, Người Việt Dallas 30-6-2005.
-Nguyễn Quang Khải: Sau Ba Mươi Năm Giữ Yên Lặng, Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin R Laird Nói Gì Về Cuộc Chiền Tranh Ở Việt Nam, điện báo Talawas tháng 3-2006.
- Việt Nguyên: 32 Năm Lật Trang Sử Cũ, Người Việt Dallas 25-4-2007.
- Minh Võ: Tại Sao Thua, Người Việt Dallas 26-4-2006.
- Trần Việt Ðại Hưng: Một Bí Ẩn Cần Tiết Lộ Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam 1975, Sài Gòn Nhỏ Dallas 2002.
- Lữ Lan: Cuộc Chiến 30 Năm Nhìn Lại Từ Ðầu, Sài Gòn Nhỏ Dallas 28-4-2006.
- Lê Quang Lưỡng: Thiên Thần Mũ Ðỏ Ai Còn Ai Mất, Người Việt Dallas 7-10-2005.
- Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam, Người Việt Dallas 21-6-2006.
- Lâm Lễ Trinh: Mạn Ðàm Với Ðại Tướng Cao Văn Viên, Về Nguồn, Thuỷ Hoa Trang 2006.
- Hồ Ðinh: Cơn Phẫn Nộ Cuối Cùng Của Một Quân Ðội Bị Phản Bội, Người Việt Dallas 23-12-2005.
- Lewis Sorley: Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Ðỗ Cung dịch, Người Việt Dallas 22-11-2006.
- Cao Văn Viên: Tuyến Ðầu Vùng Một Thất Thủ, Thằng Mõ Sacramento, số cuối tháng 4-2006.
- Nguyễn Văn Lục: Ði Tìm Thời Gian Ðánh Mất, 30-4-1975, 30-4-1976, 30-4-2007, Sài Gòn Nhỏ Dallas, 6-4-2007.

Chuyện vui có thật

                   Me... FUC... You? (chuyện thật 100%)

Trong chuyến viếng thăm chính thức Vương quốc Thái Lan của TBT Nguyễn Phú Trọng hồi tháng 6/2013, nữ Thủ Tướng Thái Yingluck Shinawatra tiếp đón và đến chào từng quan chức của đoàn đại biểu VN.

Khi đi ngang Phó thủ tướng NGUYỄN XUÂN PHÚC, ánh nắng chói chang phản chiếu qua cái trán bóng lưỡng của ông Phúc làm bà dừng lại nhìn vài giây. Chợt nhận ra việc nhìn chằm chằm vào cái đầu hói là không được tế nhị cho mấy trong nghi thức ngoại giao, bà bèn chữa thẹn bằng một câu hỏi xã giao:

- Sir! what's your name? (Thưa ông! Quý danh ông là gì ạ?)

Không ngờ bị chiếu tướng,tuy vốn tiếng Anh vô cùng hạn chế, ông Phúc vẫn nhanh trí ứng biến bằng cách ghép từ để trả lời và cũng không quên nghi thức lịch sự hỏi lại tên bà thủ tướng Thái:

- Me ... FUC ... You? [Tôi .. (tên) .. PHÚC .. (còn) .. Bà?]   (Tên Phúc phát âm FUC tưởng là Fuck ý nói chơi Bà)

Nghe thế nữ Thủ Tướng Thái đã đang thẹn lại càng thẹn hơn, mặt càng đỏ thêm, ấp úng rồi vội vã bước đi nhưng đã bị các phóng viên ghi hình chộp được giây phút bối rối ấy.

Đàn Bà Là ai ?

Đàn bà là thứ mà đàn ông không thể thiếu được. Anh có thể thiếu rượu, thiếu thuốc lá, thậm chí có thể thiếu cả áo mặc nhưng không thể thiếu đàn bà. Đàn ông tiếng là mạnh mẽ thế, cứng cỏi thế nhưng thiếu đàn bà là cô đơn bủn rủn rã rời.

Bận rộn như hoàng đế Napoleon, xông pha trận mạc khắp các chiến trường châu Âu mà vẫn không thể thiếu đàn bà.
Chiến tranh quyết liệt, căng thẳng như ở lòng chảo Điện Biên năm 1954 mà tướng Christian de Castries vẫn cần một cô nhà báo xinh đẹp làm thư ký riêng.

Giai nhân tự cổ như danh tướng. Người Trung Quốc xưa đã nói như vậy.
Đàn bà là một nửa cuộc đời của đàn ông.
Đàn ông càng làm việc nhiều, càng kiếm tiền giỏi càng cần có đàn bà, nếu không họ sẽ bị stress.

Người Nhật Bản nói: “Vắng đàn bà nhà hóa mồ côi”.
Đàn bà là thiên thần hay quỷ dữ ?
Thưa rằng trong mỗi người đàn bà có cả hai thứ đó, họ vừa là thiên thần, lại vừa là quỷ dữ.

Đàn bà còn đẹp hơn tất cả các loài hoa. Lực hấp dẫn của đàn bà rất mạnh mẽ.
Phái đẹp là thỏi nam châm mà giới mày râu là đám mạt sắt nhỏ nhoi.

Hễ người đẹp xuất hiện là những đôi mắt của cánh đàn ông sáng bừng lên, ham muốn, thèm khát và chỉ cần một cái vẫy tay, một cái liếc mắt là đàn ông có thể đổ ngay.
Tất cả các hoàng đế mạnh nhất từ xưa tới nay đều thử sức với đàn bà và đều đã thất bại.
Chính đàn ông làm cho đàn bà thành thiên thần, cũng chính đàn ông khiến đàn bà thành quỷ dữ. Nguy hiểm nhất cũng là đàn bà.

Trong 36 kế hiểm của người Trung Hoa thì mỹ nhân kế là hiểm nhất. Đổng Trác hùng mạnh thế mà phải chết vì Điêu Thuyền.
Từ Hải anh hùng thế mà phải chết đứng vì Thúy Kiều.
Phù Sai quyền lực thế mà phải chết vì Tây Thi.

Đại văn hào Victo Hugo đã viết rằng: Ai cũng có thể tin, cái gì cũng có thể tin, trừ đàn bà.
Khi đàn bà là thiên thần thì họ là người tuyệt vời nhất, hấp dẫn nhất.
Nhưng khi đàn bà là quỷ dữ thì họ trở nên nguy hiểm nhất.
Song cũng vì tính chất hai mặt này của đàn bà mà họ trở nên có sức hút mạnh mẽ hơn đối với đàn ông, vì đàn ông ham chơi mà trò chơi nếu thiếu tính mạo hiểm thì không hấp dẫn.

Đàn bà ma lực như thương trường, bất trắc như thương trường, nhiều rủi ro như thương trường.
Vì tôn thờ tình yêu nên cuối đời đàn bà không biết ai yêu mình.
Vì chạy theo đàn bà nên cuối đời người đàn ông không biết là mình yêu ai.

Đàn bà là gì ? Đàn bà là ai ?
Những câu hỏi đó suốt đời đàn ông không thể trả lời được một cách trọn vẹn.
Song cũng vì thế mà suốt đời đàn ông cứ si mê đàn bà. Nếu đàn bà như chiếc bánh, bóc lá ra là thấy được hết cả nhân lẫn bột thì đàn ông sẽ chán ngay và sự nhàm chán là kẻ tử thù của tình yêu còn sự bí ẩn là chất xúc tác của tình yêu.

Nếu không thèm khát đàn bà thì không phải là đàn ông.
Nhưng nếu đánh mất sự nghiệp vì đàn bà thì cũng không phải là đàn ông.
Người đàn ông thông minh xem đàn bà như bông hoa tươi trong phòng khách, là người bạn tâm giao trong phòng ngủ và là người cộng sự trong sự nghiệp.

Lịch sử Dinh Độc Lập

1. Vài nét về lịch sử dinh Gouverneur de la Cochinchine:Năm 1858, Pháp đã phát động một cuộc tấn công vào Đà Nẵng, bắt đầu cuộc xâm lược của Việt Nam. Năm 1867, Pháp đã hoàn thành cuộc chinh phục của miền Nam Việt Nam (Đàng Trong), bao gồm các tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Để củng cố thuộc địa mới  được thành lập, vào ngày 23 tháng 2 năm 1868, Lagrandière, Thống đốc Nam Kỳ có những động thái đầu tiên là xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ mới và chọn một vị trí đắc địa nhất. Đó là một vùng đất cao nhất Sài Gòn, rộng 15 ha, có nơi làm công viên, vườn cây và những bãi cỏ xanh mướt, nhìn ra một không gian rộng thoáng.

Ngày 5.2.1865, tờ Courrier de Saigon (Thư tín Sài Gòn) đăng một thông báo của chính quyền thuộc địa dành một khoản tiền thưởng trị giá 4.000 franc cho các kiến trúc sư hay nghệ sĩ nào giới thiệu một đề án tốt nhất được chọn làm cơ sở xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ.

Khoản tiền thưởng không phải là nhỏ, song đến ngày 20.4.1865, vượt quá thời hạn chót 25.3.1865, chỉ mới có một đề án được gửi tới ban tổ chức. Sau đó không lâu, một đề án do một nhóm kiến trúc sư ở Singapore soạn thảo được chuyển đến Sài Gòn, song sau khi xem xét kỹ cả hai đề án, ban tổ chức không chấp thuận một cái nào.

Cuối cùng, cơ hội bắt tay xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ đã xuất phát từ một sự tình cờ. Trong một dịp ghé Hong Kong, hai đô đốc Pháp Ohier và Roze (cũng từng làm Thống đốc Nam kỳ) được giới thiệu với một kiến trúc sư người Pháp trẻ tên Hermitte, nguyên là học viên trường Mỹ thuật Paris.

Tại Hong Kong, Hermitte đã đoạt giải thưởng trong việc thiết kế đồ án Tòa Thị chính, vượt qua nhiều kiến trúc sư khác. Nắm bắt được những thông tin này, Roze và Ohier trở về Sài Gòn, thuyết phục đương kim Thống đốc Nam kỳ De La Grandìere chính thức nhờ Hermitte thiết kế và xây dựng dinh Thống đốc.

Một trong những biện pháp được sử dụng để lôi kéo nhân tài trẻ này là khoản thu nhập 36.000 franc/năm, cao hơn rất nhiều so với các viên chức Pháp đứng đầu các cơ quan tọa lạc tại Sài Gòn. Và những gì De La Grandìere làm đã có một hiệu ứng tốt: chỉ mấy ngày sau khi đến Sài Gòn, Hermitte trình một đồ án được viên Thống đốc chấp thuận ngay.

Chủ nhật ngày 23 tháng 2 năm 1868, trước đông đảo người tham dự, lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ đã diễn ra dưới sự chủ trì của Đô đốc De La Grandìere, với sự tháp tùng của nhiều sĩ quan và viên chức cao cấp của Pháp.

Người làm phép cho công trình là Giám mục Miche với một diễn từ gây xúc động cho cử tọa. Với sự phụ giúp của kiến trúc sư Hermitte, Thống đốc De La Grandìere làm lễ đặt viên đá đầu tiên được chôn sâu 2,6m bên dưới mặt đất, trên một tầng đất rất cứng chắc.

Đó là một viên đá hoa cương vuông vắn, mỗi cạnh 50cm, được mang từ Biên Hòa về. Trong thời gian xây dựng, Hermitte đã cho đào một hố móng sâu 3,5 mét, lấy đi 2.436 m3 đất đá và sử dụng khoảng 2 triệu viên gạch.

Năm 1870, công trình đang thực hiện theo tiến độ đã định thì cuộc chiến tranh Pháp-Phổ nổ ra, hoàng đế Pháp Napoléon III bị bắt làm tù binh, nước Pháp thất trận. Sự kiện này ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ, do nhiều vật liệu phải được chuyển từ chính quốc sang. Công trình này được xây cất trên một diện tích rộng 12 ha, bao gồm một dinh thự lớn với mặt tiền rộng 80 m, bên trong có phòng khách chứa 800 người, và một khuôn viên rộng với nhiều cây xanh và thảm cỏ. Phấn lớn vật tư xây dựng dinh được chở từ Pháp sang. Tất cả đều được xây theo phong cách tân Baroque giống với kiểu của hoàng đế Napoleon III.

Cũng vì thế mà mãi đến năm 1875, kiến trúc đồ sộ này mới hoàn chỉnh phần trang trí. Sốt ruột về sự chậm trễ trong tiến độ xây dựng và hoàn thành cơ sở, ngay từ năm 1873, Thống đốc Nam kỳ Dupré đã dọn về đây để ở và làm việc trong lúc việc trang trí còn tiếp diễn. Dinh gỗ “Thủy sư Đề đốc” còn được lưu giữ, mãi đến năm 1877 mới bị phá hủy hoàn toàn.

Sau khi xây dựng xong, dinh được đặt tên là dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng được gọi là đại lộ Norodom, lấy theo tên của Quốc vương Campuchia lúc bấy giờ là Norodom (1834-1904). Từ 1871 đến 1887, dinh được dành cho Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) nên gọi là dinh Thống đốc.

Trước khi có dinh Thống đốc Nam kỳ là Dinh gỗ “Thủy sư Đề đốc” được xây dựng bằng gỗ đặt trên một khu đất rộng được giới hạn bởi các con đường Nguyễn Du-Tự Do-Gia Long-Hai Bà Trưng về sau (khu vực sau này là trường Taberd). (nguồn historicvietnam.com do Tim Doling viết)

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam. Nhưng đến tháng 9 năm 1945, Nhật thất bại trong Thế chiến II, Pháp trở lại chiếm Nam bộ, Dinh Norodom trở lại thành trụ sở làm việc của Pháp ở Việt Nam. Sau năm 1954, người Pháp rút khỏi Việt Nam. Việt Nam bị chia cắt thành 2 quốc gia, miền Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn miền Nam là nước Quốc Gia Việt Nam (sau thành Việt Nam Cộng Hòa). Ngày 7 tháng 9 năm 1954 Dinh Norodom được bàn giao giữa đại diện Pháp, tướng 5 sao Paul Ely, và đại diện Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

2. Vài nét về dinh Độc Lập thời đệ I Cộng Hòa:

Năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Tổng thống. Ông quyết định đổi tên dinh này thành Dinh Độc Lập. Từ đó Dinh Độc Lập trở thành nơi đại diện cho chính quyền cũng như nơi ở của tổng thống và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Thời kỳ này, Dinh Độc Lập còn được gọi là Dinh Tổng Thống. Theo thuật phong thủy của Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng, nên Dinh cũng còn được gọi là Phủ đầu rồng. 

Đến năm 1960 vào ngày 11 tháng 11 xảy ra cuộc đảo chính quân sự đầu tiên tại Việt Nam Cộng hòa, do đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông cầm đầu. Mục đích cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa bấy giờ là Ngô Đình Diệm. Ban đầu, quân đảo chính kiểm soát được một số vị trí quan trọng tại Sài Gòn do yếu tố bất ngờ, tuy nhiên nhanh chóng thất bại khi các thủ lĩnh quân sự không kiên quyết cũng như không có được sự ủng hộ quân chúng. Ngày 12 tháng 11, đại tá Huỳnh Văn Cao chỉ huy bộ binh và thiết giáp thuộc Sư đoàn 7 đóng ở Mỹ Tho cùng đại tá Trần Thiện Khiêm và trung tá Bùi Dzinh chỉ huy bộ binh và Pháo binh thuộc Sư đoàn 21 đóng ở Sa Đéc đã tiến vào Sài Gòn. Cuộc giao tranh sau đó chớp nhoáng nhưng khốc liệt với khoảng 400 người chết, trong đó có nhiều thường dân tò mò xuống phố để xem cuộc giao tranh. Lực lượng trung thành đã tiêu diệt gọn quân đảo chính.Sau khi cuộc đảo chính bị dập tắt, một số sĩ quân quân đội và chính khách đối lập liên quan đến cuộc đảo chính bị chính quyền Ngô Đình Diệm thanh trừng và đưa ra xét xử, tiêu biểu như vụ án nhà văn Nguyễn Tường Tam.

Tôi còn nhớ sau cuộc đảo chính, quân dù của đại tá Nguyễn Chánh Thi rút đi ngược đường Công Lý hướng lên Tân Sơn Nhất, dân chúng sài Gòn đã mua bánh mì bỏ trong những giỏ cần xé lớn để dọc hai bên đường cho quân đảo chính. 

Đến năm 1962 lại xảy ra vụ ném bom dinh Độc Lập vào ngày 27 tháng 2 do hai phi công tên là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện. Mục đích của cuộc tấn công là nhằm ám sát Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm và gia đình ông, những người tham gia triều chính, trong đó có cố vấn Ngô Đình Nhu.

Vào lúc 7 giờ sáng, bầu trời Sài Gòn bị khuấy động bởi tiếng bom và tiếng súng máy nổ. Dinh Độc Lập chìm trong biển khói của cuộc tấn công từ hai chiếc máy bay ném bom A-1 Skyraider được Hoa Kỳ cung cấp.

Hai chiếc máy bay này đã ném bom và napalm. Nhiều quả rocket và nhiều loạt đạn súng máy cũng được bắn vào tòa nhà. Ngày hôm đó nhiều mây, hai viên phi công này đã bay với độ cao khoảng 150 m, đã hoàn thành một vòng tấn công tứ phía trước khi bay lên mây. Họ đã tấn công trong 30 phút trước khi lực lượng phòng không trung thành với Ngô Đình Diệm có thể đến và phản công.

Cuộc tấn công đã làm cho lực lượng bảo vệ Sài Gòn bất ngờ, bởi vì họ đã không biết là các chiếc máy bay này độc lập tác chiến hay có sự phối hợp với lực lượng dưới đất. Xe tăng và xe chở lính vội vàng đến tham chiến và pháo đất đối không khai mào trước, một chút nữa thì bắn trúng máy bay trung thành đang truy đuổi hai chiếc phản loạn.

Cuộc tấn công đã kết thúc trong một tiếng đồng hồ nhưng hai viên phi công đã không trút hết bom, nếu không đã có thể san phẳng Dinh Độc Lập. Máy bay của Quốc đã bị hư hỏng bởi tảo lôi hạm ở trên sông Sài Gòn và đã hạ cánh ở Nhà Bè. Cử thì đã đến Campuchia an toàn, tin rằng cuộc tấn công đã thành công.

Quả bom nặng 500 lb đầu tiên đã xuyên vào một căn phòng mà trong đó Diệm, một người hay thức dậy sớm đang đọc sách. Quả bom này không nổ và Diệm đã chạy xuống tầng hầm của Dinh Độc Lập cùng với Tổng giám mục Ngô Đình Thục, em trai Ngô Đình Nhu và vợ Nhu là Trần Lệ Xuân và con của họ. Trần Lệ Xuân bị gãy tay khi đang chạy xuống tầng hầm. Ba người phục vụ và lính gác chết, 30 người khác bị thương. Một nhà thầu người Mỹ leo lên nóc nhà để xem vụ tấn công đã bị rơi xuống và chết.

Tôi vẫn nhớ sáng hôm đó khi chuẩn bị đi học (lúc đó tôi học tư ở trường Michelet góc ngả tư Trương Minh Giảng - Hiền Vương) thì tiếng máy bay gầm rú trên bầu trời và một tiếng nổ lớn vang lên. Pháo cao xạ từ dinh bắn lên xối xả, đạn bay hết tầm rơi vào khu biệt thự kế bên tôi ở (230 Công Lý); mọi người chạy hết vào trong nhà tránh đạn. 

Do không thể khôi phục lại, ông Ngô Đình Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã.

Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng ngày 1 tháng 7 năm 1962. Trong thời gian xây dựng, gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm tạm thời chuyển sang sống tại Dinh Gia Long. Công trình đang xây dựng dở dang thì ông Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính ám sát ngày 2 tháng 11 năm 1963.

3. Vài nét về dinh Độc Lập thời đệ II Cộng Hòa:

Ngày 31 tháng 10 năm 1966, người chủ tọa buổi lễ là ông Nguyễn Văn Thiệu lúc đó là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ ngày này, Dinh Độc Lập mới xây trở thành nơi ở và làm việc của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu sống ở dinh này từ tháng 10 năm 1967 đến ngày 21 tháng 4 năm 1975.

Phí tổn xây dựng Dinh Độc Lập tốn khoảng 150.000 lượng vàng và mỗi quân nhân, nhân viên chính quyền thời ấy phải đóng góp mỗi người một ngày lương. Một vài số liệu về vật liệu đã sử dụng: bê-tông cốt sắt độ 12.000m3, gỗ quí 200m3, kính làm các cửa 2.000m2, đá rửa và đá mài 20.000m2...

Theo đồ án, tòa nhà có diện tích xây dựng 45.000 m2 (rộng 21 gian 85m, sâu 19 gian 80m). Diện tích mặt sàn sử dụng khoảng 20.000m2, gồm ba tầng chính, hai gác lửng, một sân thượng (có sân bay trực thăng) và một tầng nền. Tổng số các phòng trong toàn dinh là 95 phòng, không kể các khu vực vệ sinh, hành lang và khách sảnh. Các phòng lớn bố trí cho các công việc đối nội, đối ngoại nằm ở các tầng trệt và lầu 1, lầu 2. Trang trí trong dinh có nhiều bức họa của những danh họa có tiếng đương thời. Bức "Giang sơn cẩm tú" của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, bức "Khuê văn các", "Vua Trần Nhân Tông" của họa sĩ Thái Văn Ngôn.

Đặc biệt ở phòng trình quốc thư có bức "Bình Ngô đại cáo" (của Nguyễn Trãi viết trong thời giúp Lê Lợi chống giặc Minh), một bức tranh sơn mài lớn gồm 40 bức tranh sơn mài nhỏ ghép lại, tả cảnh sinh hoạt của nhân dân Việt Nam dưới thời Lê của họa sĩ Nguyễn Văn Minh. Ngoài ra còn bức tranh "Giang Sơn Cẩm Tú" của KTS Ngô Viết Thụ; bức "Khuê Văn Các" (Vua Trần Nhân Tông) của họa sĩ Thái Văn Ngôn.

Khi thiết kế Dinh Ðộc lập, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ muốn tìm một ý nghĩa văn hóa cho công trình, nên mọi sự xếp đặt từ bên trong nội thất cho đến tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho triết lý cổ truyền, nghi lễ Phương đông và cá tính của dân tộc. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật kiến trúc hiện đại với kiến trúc truyền thống Phương Ðông. Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ CÁT, có nghĩa là tốt lành, may mắn; Tâm của Dinh là vị trí phòng Trình quốc thư; Lầu thượng là Tứ phương vô sự lầu hình chữ KHẨU để đề cao giáo dục và tự do ngôn luận. Hình chữ KHẨU có cột cờ chính giữa sổ dọc tạo thành hình chữ TRUNG như nhắc nhở muốn có dân chủ thì phải trung kiên. Nét gạch ngang được tạo bởi mái hiên lầu tứ phương, bao lơn danh dự và mái hiên lối vào tiền sảnh tạo thành hình chữ TAM. Theo quan niệm dân chủ hữu tam Viết nhân, viết minh, viết võ, ý mong muốn một đất nước hưng thịnh thì phải có những con ngườ i hội đủ 3 yếu tố Nhân, Minh, Võ. Ba nét gạch ngang này được nối liền nét sổ dọc tạo thành hình chữ VƯƠNG, trên có kỳ đài làm thành nét chấm tạo thành hình chữ CHỦ tượng trưng cho chủ quyền đất nước. Mặt trước của dinh thự toàn bộ bao lơn lầu 2 và lầu 3 kết hợp với mái hiên lối vào chính cùng 2 cột bọc gỗ phía dưới mái hiên tạo thành hình chữ HƯNG ý cầu chúc cho nước nhà được hưng thịnh mãi. 

Vẻ đẹp kiến trúc của Dinh còn được thể hiện bởi bức rèm hoa đá mang hình dáng những đốt trúc thanh tao bao xung quanh lầu 2. Rèm hoa đá được biến cách từ bức cửa bàn khoa của các cung điện Cố đô Huế không chỉ làm tăng vẻ đẹp của Dinh mà còn có tác dụng lấy ánh sáng mặt trời.

Ði vào bên trong Dinh, tất cả các đuờng nét kiến trúc đều dùng đường ngay sổ thẳng, các hành lang, đại sảnh, các phòng ốc đều lấy câu chính đại quang minh làm gốc.

Sân trước của Dinh là một thảm cỏ hình oval có đường kính 102m. Màu xanh rì của thảm cỏ tạo ra một cảm giác êm dịu, sảng khoái cho khách ngay khi bước qua cổng.

Chạy dài theo suốt chiều ngang của đại sảnh là hồ nước hình bán nguyệt. Trong hồ thả hoa sen và hoa súng gợi nên hình ảnh những hồ nước yên ả ở các ngôi đình, ngôi chùa cổ kính của Việt Nam.

Dinh có diện tích 120.000m2 (300m x 400m), được giới hạn bởi 4 trục đường chính đó là:

• Ðường Công Lý ở phía Ðông Bắc (mặt chính của Dinh)

• Ðường Huyền Trân Công Chúa ở phía Tây Nam (mặt sau của Dinh)

• Ðường Hồng Thập Tự ở phía Tây Bắc (phía bên trái Dinh)

• Ðường Nguyễn Du ở phía Ðông Nam (phía bên phải Dinh)

Dinh có 04 khu nhà:

• Khu nhà chính hình chữ T diện tích mặt bằng là 4.500m2, cao 26m, nằm ở vị trí trung tâm của khu đất. Ðây từng là nơi ở và làm việc Tổng thong chính quyền Sài Gòn. Khu này có 03 tầng lầu, 2 gác lửng, 1 sân thượng, 1 tầng nền và 1 tầng hầm. Tổng diện tích sử dụng là 20.000m2 chia làm 95 phòng. Mỗi phòng có 1 chức năng riêng, kiến trúc và các trang trí phù hợp với mục đích sử dụng của mỗi phòng.

• Khu nhà 2 tầng diện tích 8m x 20m phía đường Nguyễn Du trước 1975 là trụ sở làm việc của Ðảng Dân chủ.

• Khu 04 nhà 2 tầng phía góc đường Nguyễn Du – Huyền Trân Công Chúa trước 1975 là khu nhà ở của tiểu đoàn bảo vệ Dinh Ðộc lập.

• Khu nhà trệt phía góc đường Huyền Trân Công Chúa – Hồng Thập Tự, trước 1975 là khu sinh hoạt của đội cận vệ phi hành đoàn lái máy bay cho Nguyễn Văn Thiệu, của bộ phận chăm sóc vườn cây.

Ngoài các khu nhà trên, ở góc trái Dinh phía đường Hồng Thập Tự còn có một nhà bát giác đuờng kính 4m, xây trên một gò đất cao, chung quanh không xây tường, mái ngói cong cổ kính làm nơi hóng mát, thư giãn.

Các bạn nhìn thấy những cây cao bên trong dinh, đó là những cây nhãn rừng. Trong dinh có rất nhiều sóc, chúng thường ăn trái này. Đó là hồi trước năm 1975 chứ không biết giờ này còn không.

Tôi còn nhớ vào năm 1970 vào dịp tất Trung thu, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có tổ chức lễ trước thềm của dinh. Lúc đó trường mình có dự, thầy Linh dẫn một ban hợp ca hát bài Trung thu gặp mưa do thầy sáng tác. Trùng hợp thay đêm đó trời mưa, học sinh các trường tràn vào sảnh chính của dinh dẫm lên sàn và thảm làm dơ hết.

Xen giữa 04 khu nhà trên là những bãi cỏ xanh mướt, vườn cây cổ thụ, những chậu cây kiểng quí và 04 sân tenis phía sau khu nhà chính.

Dinh Độc Lập lúc đầu chưa có bao bọc bởi hàng dây kẽm gai, chỉ có từ năm 1968 mới được rào thêm để bảo vệ an ninh cho dinh để tránh bị tấn công như trong vụ tết Mậu Thân và đường Huyền Trân Công Chúa cũng bị ngăn lại không cho xe qua lại.

Dinh độc Lập được bao bọc bởi hàng rào kẽm gai bảo vệ dưới mặt đất nhưng trớ trêu thay nó bị tấn công từ trên không. Ngày 8 tháng 4 năm 1975, chiếc máy bay F-5E do Nguyễn Thành Trung lái, xuất phát từ Biên Hòa, đã ném bom Dinh, gây hư hại không đáng kể. Một trái bom rơi cạnh sân trực thăng trên nóc Dinh nhưng chỉ nổ phần đầu cắm xuống làm lún sạt một khoảng nhỏ. Lúc đó tại trường Lê Quý Đôn các lớp khối 10 trở xuống đang thi đệ nhị bán niên riêng lớp tôi thì bắt đầu vô lớp học toán với thầy Quãng Lan, thì chúng tôi bỗng nghe một tiếng rú của máy bay trên đầu và một tiếng nổ sau là tiếng pháo cao xạ. Chúng tôi chạy ra ngoài lớp thì thấy mấy thầy cô và các học sinh chạy tán loạn, tôi với anh Hồ Tuấn Ngọc lấy máy chụp hình chạy ra cổng trước băng qua đường và chụp một số hình. Rất tiếc giờ anh Ngọc không còn và các hình đó cũng thất lạc. Đây là lần thứ hai trong lịch sử dinh Độc Lập bị đánh bom.

Rồi lịch sử cái gì đến phải đến tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức nhường quyền lãnh đạo cho ông Trần Văn Hương nhưng ông này không ở trong dinh. Đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, Dương Văn Minh lên làm tổng thống chỉ ở vỏn vẹn hai ngày trong dinh.Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiếc xe tăng T 54 của Bùi Quang Thận húc sập cổng dinh chấm dứt chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

http://madeinsaigon.vn/bai-viet/lich-su-dinh-doc-lap-1436292472382.html

Đọc mà thấm tận tim gan

Thư Không Niêm Gửi Bạn.
Trần Văn Lương
(Thay lời một vị thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đang kẹt ở VN gửi người bạn cũ ngày xưa đã vượt biên, nhưng nay lại viện dẫn đủ mọi lý do để về vui chơi)

Gửi nhờ tập vé số trên tay,
Chống nạng đến đây để gặp mày.
Hụt hẫng thấy mày ngồi giữa quán,
Đang cùng bầy cán bộ vui say.

Không muốn bị mang tiếng quấy rầy,
Khi lòng đang thất vọng chua cay,
Nên đành mượn tạm vài trang giấy,
Viết bậy đôi câu gửi tới mày.

Mày hãy cùng tao nhớ lại ngày,
Cùng mày trong bóng tối chia tay,
Mày thề rằng nếu Trời cho thoát,
Mày ắt không quên mối hận này.

Từ đó, trong đau đớn dập vùi,
Bọn tao mòn mỏi đợi tin vui.
Ngờ đâu hạnh phúc lùi xa mãi,
Nghĩ đến quê hương lại ngậm ngùi.

Mày trở về chơi đã lắm lần,
Lúc thì viện cớ gặp người thân,
Lúc theo "từ thiện" tìm danh vọng,
Hí hửng vô tròng bọn ác nhân.

Hàng vạn hàng trăm các hội đoàn,
Tranh đua làm thiện thật gian nan.
Hân hoan vì chút hào quang giả,
Họ đã an nhiên giúp bạo tàn.

Mày cũng lần theo đóm múa may,
Hết quà lại cáp phát rền tay.
Tiền Tây, tiền Mỹ xài như rác,
Lầu các thi nhau mọc dẫy đầy.

Mày biết dân đây được những gì,
Khi đoàn cứu trợ đã ra đi?
Đất đai ngập lụt, nhà tan nát,
Ngơ ngác trên tay một gói mì!

Biết chăng vì những đứa như mày,
Sự thật quê nhà chẳng chịu hay,
Hãnh diện ta đây về "cứu viện",
Nên bầy quỷ đỏ hiện còn đây.

Mày có biết mày đã tiếp tay,
Nuôi dân cho chúng để rồi nay,
Chúng càng thêm có đầy phương tiện,
Để khiến dân ta mãi đọa đày.

Cả bầy chúng vẫn sống xa hoa,
Xuất ngoại đầu tư, sắm sửa nhà,
Con cái tiêu ra hàng bạc triệu,
Đồng tiền đó liệu lấy đâu ra?

Mày so với chúng được bao lăm,
Tỷ phú tiền Tây chúng cả trăm.
Của cải một thằng trong Bắc phủ,
Thừa nuôi dân sống đủ nhiều năm.

Phải chăng vì cật ấm cơm no,
Mày lại mơ màng chức vị to,
Nên mới trở cờ o bế giặc,
Qua sông ngoảnh mặt với con đò?

Tao xót xa nhìn lũ bạn thân,
Ngày xưa vượt biển lắm gian truân,
Nay khuân tiền bạc về quê cũ,
Góp sức nuôi bè lũ hại dân.

Bạn mình giờ lắm kẻ giàu sang,
Áo gấm xênh xang rộn xóm làng.
Có đứa vênh vang bằng cấp lớn,
Hùa theo lũ ngợm chống Cờ Vàng.

Có thằng may mắn lắm đồng ra,
Thơ thới về đây, bỏ vợ nhà.
Có đứa làm sui gia với giặc,
Ra ngoài trở mặt líu lo ca.

Thấy miệng mày thoa mỡ nói năng,
Lòng tao chua xót chợt hay rằng,
Xuống thuyền mấy đứa đêm hôm đó,
Giờ đã "vinh quy" đủ bấy thằng!

Tao tưởng bao năm ở nước ngoài,
Chúng mày phải biết rõ hơn ai,
Ngày ngày đọc thấy nhiều tin tức,
Sao lại vô tâm được thế này?

Lần cuối cho tao nói một lời:
Nếu còn người trở lại ăn chơi,
Đua đòi danh lợi, buôn "từ thiện",
Thì chớ mơ chi chuyện vá trời.

Nắng chiều cuốn xác lá trôi,
Bóng đôi nạng gỗ đơn côi ngược dòng.